Saturday, December 6, 2008

Lần đầu ra Hà Nội

Lần đầu ra Hà Nội
by DungLH, HCM, 06-Dec-2008


Cuối năm 2005, chưa đầy 1 tháng nữa là tới Tết ta 2006. Tôi được QNM yêu cầu ra Hà Nội học Turbo và support những new members của CC HN. Hồi đó core team CC HN đều chuyển sang dự án Epson của Nhật. Gần Tết mà bị bắt đi cũng hơi chán. Nhưng lần đầu được đi máy bay, được học máy pocket PC, cộng thêm cái tâm của leader nên tôi vui vẻ nhận lời.

Cùng đi với tui là TTV_CC HN leader lúc đó, TTV đang công tác tại SG nên sẳn dịp dắt tui ra HN luôn. Cảm giác thích thú khi lần đầu ngồi trên máy bay chưa được bao lâu thì cái chán nản ập đến, khi máy bay hạ cánh, tai tui như có kiến bò lích nhích, nhức không chịu nỗi. Thấy tui bịch tai, TTV cười bảo “lần đầu đi máy bay ai cũng có cảm giác đó” .

Tuần đầu tui ở KS PD chung với KTA, aDLQ, aNNT. Những người này đang học khóa dành cho các PM ở Hà Nội. Cũng tại đây nên tui mới phát hiện ra aDLQ có sở thích là xem phim hoạt hình! Còn nhớ ảnh đã trốn học ít nhất 1 ngày chỉ nằm ở nhà coi hoạt họa.

Sau 1 tuần, mọi người đều trở về SG. HTTT thuê cho tui phòng khác trong hẻm cũng đầy đủ tiện nghi. Và kể từ đấy là lúc tui onsite một mình, lâu ngày, trong cái lạnh của Hà Nội.

Ngày đầu đến CC HN, TTV tổ chức buổi họp giới thiệu tui với mọi người. VMC báo cáo “Từ ngày có Turbo các em Sip hầu như làm việc gấp đôi. Nguyên nhân tool chưa ổn định”. Bỏ mẹ, phen này về SG support Turbo chắc chết. Ngoài thời gian support new member, tui được VMC train Turbo rất nhiệt tình, nhưng vì lúc đó tool hay bị lỗi nên tui vẫn chưa nắm được quy trình chuẩn, vì hầu như lúc nào cũng thấy can thiệp vào DB, úi trời cái mà tui sợ nhất.

Mỗi tối tôi thường đi bộ về phòng trọ, len lỗi trong các con hẻm kiếm ăn, và tui phát hiện ra quán cơm sinh viên hơi lạ. Lạ ở chỗ, nếu ở SG chỉ cần kêu dĩa cơm cá hay thịt gì đấy là được, còn ở đây tui phải gọi món đại loại như 1 ngàn cơm- 2 ngàn thịt – 1 ngàn rau,….

Tôi cũng được may mắn đi ăn cưới 1 người ở HN và lại thấy chuyện lạ nữa so với SG. Đó là mỗi bàn ăn đều có budget, người ta dọn cho mỗi bàn bao nhiêu chai bia và nước ngọt đúng budget thôi. Nếu mà muốn uống lấy uống để như SG cũng không có mà uống.

Saturday, October 25, 2008

Tiếng Anh giang hồ

Tiếng Anh giang hồ
( collected by dunglh, Hà Nội – 25 Oct 2008 )


Thì có chữ perfect: liên quan đến thứ tự hành động trước sau. Hành động trước dùng past perfect ( had + v3 ), hành động xảy ra sau dùng simple past ( S + v2 )
Vd : I had been CC before I went to deploy.
Vd: After I had arrived hotel, I had a meeting with distributor.
Cách nhớ:
i. Thứ tự trước sau theo bảng chữ cái là ABC. A trước B sau. A = After, B = Before.
ii. After + hành động 1 ( had + v3 )
iii. Before + hành động 2 ( S + v2 )

Thứ tự của tính từ: học thuộc bài thơ sau:
Sở hữu tính từ: vd: our 2 good fiends
Số đào hoa : number đứng trước tiên , vd : 2 red hat
Đẹp trai : opinion ( nice , good, …)
Chân dài : size ( long, short)
Tuổi dê : age ( old, new )
Hình dáng ra sao : shape ( thin, round )
Màu sắc thế nào : color ( red, white )
Nước gì chất chi : country of origin , material ( French , Fe)
Mục đích làm quen : purpose ( walking )
Noun

Lượng từ every : everywhere, everybody, everything,…
Đi với every thì động từ ở số ít. Vì every là “mọi” à “người mọi” à nên ít người.
Vd : everything is ok, everybody works good

Thêm es cho danh từ (cũng tương tự động từ đi sau ngôi thứ 3 số ít) :
Danh từ tận cùng 9 chữ vàng O X S Z Ch Sh Y F Fe thì thêm es vào
i. Cách nhớ : Ông Xã Sửa Zùm Chiếc Sh Yếu F(ép) Fê
ii. 3 nguyên âm ko được phép đứng cạnh nhau.
iii. F và Fe đổi thành ves.

Giới từ thời gian: at , in , on
At : nói về giờ
i. Vd: At 4h
In: nói về buổi
i. Vd: in the morning
On: nói về ngày
i. Vd: on Sunday
Lưu ý:
i. Nếu > ngày thì dùng in (vd: in 2008,…)
ii. Nếu có nhiều mốc thời gian thì chỉ xét đơn vị nhỏ nhất( vd: on 24 Oct, at 5h tomorrow)
Cách nhớ: xếp theo abc thì "at nhỏ hơn in nhỏ hơn on ( xét chữ cái đầu a nhỏ hơn i nhỏ hơn o) tương đương giờ nhỏ hơn buổi nhỏ hơn ngày"
Ngoại lệ: at night, in the night, at X-mas , on X-mas day.

Tuesday, September 30, 2008

The Trouble Tree

The Trouble Tree

Submitted By Kim Holtzenberg
Source : http://think.fountaingateway.com/thinknponder2.htm

The carpenter I hired to help me restore an old farmhouse had just finished a rough first day on the job. A flat tire made him lose an hour of work, his electric saw quit, and now his ancient pickup truck refused to start.
While I drove him home, he sat in stony silence. On arriving, he invited me in to meet his family. As we walked toward the front door, he paused briefly at a small tree, touching tips of the branches with both hands. When opening the door, he underwent an amazing transformation. His tanned face was wreathed in smiles and he hugged his two small children and gave his wife a kiss.
Afterward he walked me to the car. We passed the tree and my curiosity got the better of me. I asked him about what I had seen him do earlier. “Oh, that's my trouble tree," he replied. "I know I can't help having troubles on the job, but one thing's for sure, troubles don't belong in the house with my wife and the children. So I just hang them up on the tree every night when I come home. Then in the morning I pick them up again."
"Funny thing is," he smiled, "when I come out in the morning to pick'em up, there ain't nearly as many as I remember hanging up the night before."


Cây rắc rối

Translated by dunglh, Hanoi , 30 Sep 2008

Ông thợ mộc tôi thuê để giúp tôi sửa lại căn nhà nông trại cũ vừa mới hoàn tất xong ngày đầu nhọc nhằn với công việc này. Một bánh xe xẹp làm ông mất một giờ công ( để sửa xe), cưa điện của ông bị tuột ra, và giờ xe chở hàng cũ của ông không chịu khởi động.

Trong lúc tôi chở ông về nhà, ông ngồi lặng thinh như như hòn đó. Lúc đến nhà, ông mời tôi vào gặp gia đình ông. Khi ông đi bộ tới cửa trước, ông dừng lại giây lát ở một cây nhỏ, chạm hai tay vào ngọn của các nhánh cây. Khi mở cửa, ông trãi qua một sự thay đổi kinh ngạc. Gương mặt rám nắng của ông cười tươi và ông ôm ghì hai con nhỏ và trao vợ ông một nụ hôn.

Sau đó ông cùng tôi đi đến ô tô. Chúng tôi đi qua cái cây này và tôi không kiềm nỗi sự tò mò. Tôi hỏi ông về những gì tôi thấy ông làm trước đây. “Ồ, đó là cây rắc rối của tôi,” ông đáp. “Tôi không thể ngăn được có những rắc rối ở công việc này, nhưng chắc chắn một điều là, những rắc rối không thuộc trong căn nhà này với vợ và con tôi. Vì thế tôi treo chúng lên cây mỗi đêm khi tôi về đến nhà. Sau đó tôi nhặt chúng lại vào buổi sáng.”


“Điều vui là,” ông mỉm cười, “khi tôi ra ngoài vào buổi sáng để nhặt chúng lên, tôi nhớ gần như nó không nhiều bằng cái tôi đã treo lên vào đêm hôm trước.”


CÂY PHIỀN MUỘN

Thầy Trần Duy Nhiên dịch
http://www.hungvuongdalat.info/forum/baiviet.asp?TID=2293&PID=12291


Tôi thuê một người thợ người thợ mộc đến giúp tôi sửa sang một nông trại cũ. Khi anh vừa xong ngày làm việc cực nhọc đầu tiên, thì vỏ xe anh bị xì khiến anh phải mất một giờ, đến lượt chiếc cưa điện anh hỏng, rồi cái xe một tấn cũ kỹ của anh lại không chịu khởi động. Suốt thời gian tôi lái xe đưa anh về nhà, anh ngồi trầm ngâm im lặng như một pho tượng.

Đến nơi, anh mời tôi ghé vào thăm gia đình anh. Trên đường bước đến cửa ra vào, anh dừng lại một thoáng trước một cây nhỏ, đưa hai tay lên chạm vào đầu cành. Khi anh mở cửa thì con người anh đã thay đổi một cách lạ lùng. Gương mặt sạm nắng sáng lên trong nụ cười; anh ôm hai đứa con nhỏ vào lòng và hôn vợ mình.

Sau đó anh tiễn tôi ra xe. Chúng tôi đi ngang qua cái cây nhỏ và lòng hiếu kỳ đã vượt thắng tôi. Tôi hỏi anh về điều tôi thấy anh làm nơi cái cây ấy.

Anh trả lời: "À, đấy là cái cây phiền muộn của tôi. Tôi biết rằng mình không thể nào tránh khỏi những phiền toái bực dọc trong công việc, nhưng có điều chắc chắn, ấy là những bực bội đó không đính dấp gì đến căn nhà này, đến vợ con tôi. Vì thế tôi treo chúng lên cây này mỗi tối khi đi làm việc về. Rồi sáng hôm sau tôi lại lấy xuống mà đem đi."

Anh ta mỉm cười nói tiếp: "Điều ngộ nghĩnh là sáng hôm sau khi tôi lấy xuống thì dường như các phiền toái không còn nhiều bằng lúc tôi treo chúng lên cành cây đêm hôm trước nữa!"

Friday, September 26, 2008

Big Feet - Bigger Heart

Big Feet - Bigger Heart
Collected by DungLH , from Sunflower No.101 – Feb 2002

When deeds speak, words are nothing. (African Proverb)

It was an unseasonably hot day. Everybody it seemed was looking for some kind of relief,so an ice cream store was a natural place to stop.
A little girl, clutching her money tightly entered the store.Before she could say a word, the store clerk sharply told her to get outside and read the sign on the door, and stay out until she put on some shoes.
She left slowly, and a big man followed her out of the store. He watched as she stood in front of the store and reads the sign: No bare Feet. Tears started rolling down her cheeks as she turned and walked away. Just then the big man called to her.Sitting down on the curb, he took off his size-12 shoes,and set them in front of girl saying, "Here, you won't be able to walk in these, but if you sort of slide along, you can get your ice cream cone."
Then he lifted the little girl up and set her feet into the shoes."Take your time," he said, "I get tired of moving them around, and it'll feel good to just sit here and eat my ice cream."
The shining eyes of the little girl could not be missed asshe shuffled up to the counter and ordered her ice cream cone.
He was a big man, all right. Big belly, big shoes, but most of all,he had a big heart.

Đôi bàn chân lớn – Tấm lòng còn lớn hơn
Translated by dunglh, Hanoi, Mùa thu – 26 Sep 2008

Khi hành động lên tiếng, những lời nói không còn ý nghĩa nữa ( tục ngữ Châu phi )

Hôm đó là ngày nóng trái mùa. Mọi người dường như đang tìm gì đó để khây khỏa, vì thế một cửa hàng bán kem là nơi tự nhiên để đến.

Cô gái bé nhỏ, nắm chặt tiền đi vào cửa hàng. Trước khi nó mở miệng nói một lời, người bán hàng gay gắt giọng bảo nó đi ra và đọc bảng hiệu ở ngoài cửa, và ở đó đến khi nào mang dép mới được vào.

Cô bé chầm chậm rời đi, và một người đàn ông cao to theo sau nó ra khỏi cửa hiệu. Ông quan sát khi cô bé đứng trước cửa hiệu và đọc bảng hiệu: Không được mang chân trần. Những giọt nước mắt bắt đầu lăn xuống đôi má cô bé khi nó quay người lại và bỏ đi. Ngay lúc đó người đàn ông gọi nó. Ngồi xuống lề đường, ông cởi đôi dài size 12 của ông ra, đặt nó ngay trước cô bé và nói, “Đây, cháu sẽ không thể bước đi bằng những thứ này, nhưng nếu cháu cứ kéo lê dép về phía trước, cháu có thể nhận bánh kem”

Rồi ông nhấc nó lên và đặt đôi chân nó vào đôi giày này, “Cháu cứ thong thả mà đi,” ông nói, “chú mệt khi mang chúng quanh đây, và chú cảm thấy khỏe khi ngồi đây và ăn bánh kem của chú.”

Cặp mắt sáng của cô bé không thể lẫn vào đâu khi nó lê bước tới quầy hàng và đặt mua bánh kem của nó.

Ông là người đàn ông to, điều đó hoàn toàn đúng. Bụng to, đôi giày lớn, nhưng trên hết ông có một tấm lòng lớn.

* Tôi thích đọc những chuyện thế này. Đọc đi dọc lại nhiều lần, tôi đã rơm rớm nước mắt đi đọc đến “Tears started rolling down her cheeks as she turned and walked away”.
* Hình ảnh cô bé nắm chật tiền.. làm tôi nhớ đến thằng em, khi nó còn nhỏ, nó dành dụm tiền lên ngã tư lộ đỏ mua chiếc xe đồ chơi, vì sợ bọn xấu giật nó phải bỏ chiếc xe vào trong áo ôm bụng chạy một mạch về nhà. Mong rằng tôi luôn giữ được hình ảnh này…

Tuesday, September 9, 2008

In another country

In another country
By Ernest Hemingway

In the fall the war was always there, but we did not go to it any more. It was cold in the fall in Milan and the dark came very early. Then the electric lights came on, and it was pleasant along the streets looking in the windows. There was much game hanging outside the shops, and the snow powdered in the fur of the foxes and the wind blew their tails. The deer hung stiff and heavy and empty, and small birds blew in the wind and the wind turned their feathers. It was a cold fall and the wind came down from the mountains.
We were all at the hospital every afternoon, and there were different ways of walking across the town through the dusk to the hospital. Two of the ways were alongside canals, but they were long. Always, though, you crossed a bridge across a canal to enter the hospital. There was a choice of three bridges. On one of them a woman sold roasted chestnuts. It was warm, standing in front of her charcoal fire, and the chestnuts were warm afterward in your pocket. The hospital was very old and very beautiful, and you entered a gate and walked across a courtyard and out a gate on the other side. There were usually funerals starting from the courtyard. Beyond the old hospital were the new brick pavilions, and there we met every afternoon and were all very polite and interested in what was the matter, and sat in the machines that were to make so much difference.
The doctor came up to the machine where I was sitting and said: "What did you like best to do before the war? Did you practice a sport?"
I said: "Yes, football."
"Good," he said. "You will be able to play football again better than ever."
My knee did not bend and the leg dropped straight from the knee to the ankle without a calf, and the machine was to bend the knee and make it move as riding a tricycle. But it did not bend yet, and instead the machine lurched when it came to the bending part. The doctor said:" That will all pass. You are a fortunate young man. You will play football again like a champion."
In the next machine was a major who had a little hand like a baby's. He winked at me when the doctor examined his hand, which was between two leather straps that bounced up and down and flapped the stiff fingers, and said: "And will I too play football, captain-doctor?" He had been a very great fencer, and before the war the greatest fencer in Italy.
The doctor went to his office in a back room and brought a photograph which showed a hand that had been withered almost as small as the major's, before it had taken a machine course, and after was a little larger. The major held the photograph with his good hand and looked at it very carefully. "A wound?" he asked.
"An industrial accident," the doctor said.
"Very interesting, very interesting," the major said, and handed it back to the doctor.
"You have confidence?"
"No," said the major.
There were three boys who came each day who were about the same age I was. They were all three from Milan, and one of them was to be a lawyer, and one was to be a painter, and one had intended to be a soldier, and after we were finished with the machines, sometimes we walked back together to the Café Cova, which was next door to the Scala. We walked the short way through the communist quarter because we were four together. The people hated us because we were officers, and from a wine-shop someone called out, "A basso gli ufficiali!"(Low officers) as we passed. Another boy who walked with us sometimes and made us five wore a black silk handkerchief across his face because he had no nose then and his face was to be rebuilt. He had gone out to the front from the military academy and been wounded within an hour after he had gone into the front line for the first time. They rebuilt his face, but he came from a very old family and they could never get the nose exactly right. He went to South America and worked in a bank. But this was a long time ago, and then we did not any of us know how it was going to be afterward. We only knew then that there was always the war, but that we were not going to it any more.
We all had the same medals, except the boy with the black silk bandage across his face, and he had not been at the front long enough to get any medals. The tall boy with a very pale face who was to be a lawyer had been lieutenant of Arditi and had three medals of the sort we each had only one of. He had lived a very long time with death and was a little detached. We were all a little detached, and there was nothing that held us together except that we met every afternoon at the hospital. Although, as we walked to the Cova through the tough part of town, walking in the dark, with light and singing coming out of the wine-shops, and sometimes having to walk into the street when the men and women would crowd together on the sidewalk so that we would have had to jostle them to get by, we felt held together by there being something that had happened that they, the people who disliked us, did not understand.
We ourselves all understood the Cova, where it was rich and warm and not too brightly lighted, and noisy and smoky at certain hours, and there were always girls at the tables and the illustrated papers on a rack on the wall. The girls at the Cova were very patriotic, and I found that the most patriotic people in Italy were the café girls - and I believe they are still patriotic.
The boys at first were very polite about my medals and asked me what I had done to get them. I showed them the papers, which were written in very beautiful language and full of fratellanza and abnegazione(brotherhood and selflessness), but which really said, with the adjectives removed, that I had been given the medals because I was an American. After that their manner changed a little toward me, although I was their friend against outsiders. I was a friend, but I was never really one of them after they had read the citations, because it had been different with them and they had done very different things to get their medals. I had been wounded, it was true; but we all knew that being wounded, after all, was really an accident. I was never ashamed of the ribbons, though, and sometimes, after the cocktail hour, I would imagine myself having done all the things they had done to get their medals; but walking home at night through the empty streets with the cold wind and all the shops closed, trying to keep near the street lights, I knew that Ì would never have done such things, and I was very much afraid to die, and often lay in bed at night by myself, afraid to die and wondering how I would be when back to the front again.
The three with the medals were like hunting-hawks; and I was not a hawk, although I might seem a hawk to those who had never hunted; they, the three, knew better and so we drifted apart. But I stayed good friends with the boy who had been wounded his first day at the front, because he would never know now how he would have turned out; so he could never be accepted either, and I liked him because I thought perhaps he would not have turned out to be a hawk either.
The major, who had been a great fencer, did not believe in bravery, and spent much time while we sat in the machines correcting my grammar. He had complimented me on how I spoke Italian, and we talked together very easily. One day I had said that Italian seemed such an easy language to me that I could not take a great interest in it; everything was so easy to say. "Ah, yes," the major said. "Why, then, do you not take up the use of grammar?" So we took up the use of grammar, and soon Italian was such a difficult language that I was afraid to talk to him until I had the grammar straight in my mind.
The major came very regularly to the hospital. I do not think he ever missed a day, although I am sure he did not believe in the machines. There was a time when none of us believed in the machines, and one day the major said it was all nonsense. The machines were new then and it was we who were to prove them. It was an idiotic idea, he said, "a theory like another". I had not learned my grammar, and he said I was a stupid impossible disgrace, and he was a fool to have bothered with me. He was a small man and he sat straight up in his chair with his right hand thrust into the machine and looked straight ahead at the wall while the straps thumbed up and down with his fingers in them.
"What will you do when the war is over if it is over?" he asked me. "Speak grammatically!"
"I will go to the States."
"Are you married?"
"No, but I hope to be."
"The more a fool you are," he said. He seemed very angry. "A man must not marry."
"Why, Signor Maggiore(Mr Major)?"
"Don't call me Signor Maggiore(Mr Major)."
"Why must not a man marry?"
"He cannot marry. He cannot marry," he said angrily. "If he is to lose everything, he should not place himself in a position to lose that. He should not place himself in a position to lose. He should find things he cannot lose."
He spoke very angrily and bitterly, and looked straight ahead while he talked.
"But why should he necessarily lose it?"
"He'll lose it," the major said. He was looking at the wall. Then he looked down at the machine and jerked his little hand out from between the straps and slapped it hard against his thigh. "He'll lose it," he almost shouted. "Don't argue with me!" Then he called to the attendant who ran the machines. "Come and turn this damned thing off."
He went back into the other room for the light treatment and the massage. Then I heard him ask the doctor if he might use his telephone and he shut the door. When he came back into the room, I was sitting in another machine. He was wearing his cape and had his cap on, and he came directly toward my machine and put his arm on my shoulder.
"I am sorry," he said, and patted me on the shoulder with his good hand. "I would not be rude. My wife has just died. You must forgive me."
"Oh-" I said, feeling sick for him. "I am so sorry."
He stood there biting his lower lip. "It is very difficult," he said. "I cannot resign myself."
He looked straight past me and out through the window. Then he began to cry. "I am utterly unable to resign myself," he said and choked. And then crying, his head up looking at nothing, carrying himself straight and soldierly, with tears on both cheeks and biting his lips, he walked past the machines and out the door.
The doctor told me that the major's wife, who was very young and whom he had not married until he was definitely invalided out of the war, had died of pneumonia. She had been sick only a few days. No one expected her to die. The major did not come to the hospital for three days. Then he came at the usual hour, wearing a black band on the sleeve of his uniform. When he came back, there were large framed photographs around the wall, of all sorts of wounds before and after they had been cured by the machines. In front of the machine the major used were three photographs of hands like his that were completely restored. I do not know where the doctor got them. I always understood we were the first to use the machines. The photographs did not make much difference to the major because he only looked out of the window.


Ở một nước khác
Translated by DungLH , HCM , 07 – Sep – 2008 , my birthday

Vào mùa thu chiến tranh luôn ở đó, nhưng chúng tôi không đến đó nữa. Trời lạnh vào mùa thu ở Milan và tối đến rất sớm. Lúc đó đèn điện bật lên, và thật thú vị đi dọc theo những con đường nhìn vào các quầy hàng. Có nhiều con thú treo ngoài các quầy, và bột tuyến rơi trên lông những con cáo và gió thổi vào đuôi của chúng. Con nai treo cứng đơ nặng nè và trống rỗng, và những con chim nhỏ bị thổi tung trong gió và gió thổi vào lông của chúng. Đó là một mùa thu lạnh và gió thổi từ trên núi xuống.
Tất cả chúng tôi ở bệnh viện mỗi buổi chiều, và có nhiều cách đi bộ khác nhau ngang qua thị trấn xuyên qua vùng đất mờ tối để tới bệnh viện. Hai trong số những cách là dọc theo những con kênh, nhưng chúng thì dài. Mặc dù vậy, bạn luôn luôn phải đi qua một cái cầu bắc qua con kênh để vào bệnh viện. Có một lựa chọn trong số ba cây cầu. Trên một trong số chúng, có một người phụ nữ bán những hạt dẽ rang. Thật ấm áp khi đứng trước bếp than của chị, và những hạt dẽ ấm sau đó cũng vào túi bạn. Bệnh viện rất xưa và đẹp, và bạn vào một cổng, đi qua cái sân và đi ra cổng ở phía bên kia. Thường có những đám tang bắt đầu từ cái sân này. Xa xa bệnh viện cũ này là các dãy nhà gạch mới, và ở đó chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều và tất cả chúng tôi rất lịch sự và quan tâm đến bất cứ vấn đề gì, và ngồi trên những máy được tạo rất khác biệt nhau.
Bác sĩ đến tận máy nơi tôi đang ngồi và nói: “Anh thích làm gì nhất trước chiến tranh? Có tập môn thể thao nào không?”
Tôi nói: “vâng bóng đá.”
“Tốt, anh sẽ có thể chơi bóng tốt lại hơn bao giờ hết.” bác sĩ nói.
Đầu gối tôi không gập và chân tôi duỗi thẳng từ đầu gối đến mắt cá mà không có bắp chân, và máy này sẽ gập đầu gối và làm nó cử động như khi cưỡi xe đạp. Nhưng nó vẫn không gập, và thay vào đó máy cứ lắc lư khi đến bộ phận gập. Bác sĩ nói: “Mọi chuyện sẽ qua. Anh là người may mắn. Anh sẽ chơi bóng lại như nhà vô địch.”
Ở máy bên cạnh là ông thiếu tá người có bàn tay nhỏ như tay em bé. Ông nháy mắt tôi khi bác sĩ khám tay ông, nó nằm giữa hai dây đai da đập lên đập xuống và đập vào những ngón tay đứng đơ, và nói: “và tôi cũng sẽ chơi bóng nữa đúng không bác sĩ đại úy?” Ông từng là tay kiếm rất giỏi, và là tay kiếm vĩ đại nhất nước ý trước chiến tranh.
Bác sĩ này đi trở về phòng ông ở phía sau lưng và mang một tấm ảnh hình một bàn tay bị teo hầu như bằng tay ông thiếu tá, trước khi nó tập máy này, và sau đó lớn hơn một chút. Thiếu tá cần tấm ảnh với tay lành lặn và chăm chú nhìn nó. “Bị thương àh?” thiếu tá hỏi.
“Một tai nạn công nghiệp,” bác sĩ nói.
“Rất hấp dẫn, rất hấp dẫn,” thiếu tá nói và trao ảnh lại cho bác sĩ.
“Anh có tin không?”
“Không,” thiếu tá nói.
Có ba thằng bé đến đây mỗi ngày, chúng trạc tuổi tôi. Cả ba đều từ Milan đến, và một trong số họ định làm luật sư, một định làm họa sĩ, và một định làm quân nhân, và sau khi chúng tôi tập xong các máy này, thỉnh thoảng chúng tôi cùng đi về quán café Cova bên cạnh nhà hát kịch Scala. Chúng tôi bước gần bên nhau qua khu phố cộng sản vì chúng tôi là bốn người bên nhau. Người dân ở đây ghét chúng tôi vì chúng tôi là những sĩ quan, và từ một quán rượu ai đó gọi lên “sĩ quan quèn” khi chúng tôi đi ngang. Một thằng bé nữa thỉnh thoảng đi dạo với chúng tôi và làm chúng tôi trở thành nhóm năm người, mang một khăn tay lụa đen căng ngang qua mặt vì nó không có mũi lúc đó và khuôn mặt nó sẽ được tái dựng lại. Nó ra chiến trường từ học viện quân sự và bị thương trong vòng một giờ sau khi ra tiền tuyến lần đầu tiên. Họ đã dựng lại khuôn mặt nó, nhưng gốc gác nó rất xa và họ không bao giờ nhận diện chính xác mũi nó. Nó đi đến Nam Mỹ và làm cho một ngân hàng. Nhưng việc đó thì cách đây lâu rồi, và sau đó không ai trong chúng tôi biết chuyện gì xảy ra nữa. Chúng tôi chỉ biết rằng luôn luôn có chiến tranh, nhưng chúng tôi không đi đến đó nữa.
Tất cả chúng tôi có cùng các huy chương, ngoại trừ thằng bé có khăn lụa đen che ngang mặt, nó không ở tiền tuyến đủ lâu để nhận bất cứ huy chương nào. Thằng bé cao với gương mặt tái xanh người dự định trở thành luật sư là trung úy hải quân ý (Arditi) và có ba huy chương trong số các loại này còn mỗi chúng tôi chỉ có một trong số đó. Nó sống một thời gian rất dài với cái chết và có chút lạnh nhạt. Tất cả chúng tôi đều hơi lạnh nhạt, và không có gì giữ chúng tôi bên nhau ngoại trừ việc chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều ở bệnh viện. Mặc dù vậy, khi chúng tôi đi bộ đến quán café Cova qua khu vực hung bạo của thành phố, đi dạo trong đêm tối, với ánh đèn và tiếng hát vọng ra từ các quán nhậu, và đôi khi phải đi vào con đường có đám đông nam nữ tụ tập với nhau trên lề đường khiến chúng tôi phải chen lấn họ để đi qua, chúng tôi cảm thấy bên nhau bởi có gì đó xảy đến rằng họ, những người không thích chúng tôi đã không hiểu.
Tất cả chúng tôi hiểu quán Cova này, nơi giàu có, ấm áp và không quá sáng, không ồn ào và không có khói thuốc ở những giờ nhất định, và luôn luôn có những cô gái ở bên các bàn và những bài báo minh họa để trên giá tường. Các cô gái ở quán Cova rất yêu nước, và tôi thấy những người yêu nước nhất ở ý là những cô gái ở quán café này – và tôi tin họ vẫn yêu nước.
Những cậu bé này lúc đầu rất lịch sự về những huy chương của tôi và hỏi tôi làm những gì để có được nó. Tôi cho họ xem những bài báo được viết bằng ngôn ngữ rất đẹp và đầy tình huynh đệ và đức hy sinh luôn nghĩ đến người khác, nhưng thật sự nói rằng với những tính từ bị lược bỏ, tôi nhận được những huy chương này là bởi vì tôi là người Mỹ. Sau đó thái độ họ có thay đổi chút ít đối với tôi, mặc dù tôi là bạn họ chống lại những người phía bên kia. Tôi là một người bạn, nhưng tôi thật sự không bao giờ là một trong số họ sau khi họ đọc những lời tuyên dương, vì nó rất khác với họ và họ làm những việc rất khác để nhận những huy chương đó. Tôi đã bị thương, điều đó đúng, nhưng tất cả chúng tôi biết rằng bị thương, sau hết thật sự chỉ là một tai nạn. Tôi chưa bao giờ xấu hổ về những dây huy chương này, dù vậy, đôi khi sau những giờ uống nước, tôi tự tưởng tượng làm tất cả mọi thứ để nhận những huy chương của họ; nhưng đi bộ về nhà lúc đêm qua những con đường vắng trong gió lạnh và tất cả của hàng đã đóng cửa, cố giữ gần ánh đèn đường, tôi biết rằng tôi sẽ không bao giờ làm những việc như thế, và rất sợ chết, và thường nằm ngủ một mình lúc đêm, sợ chết và tự hỏi sẽ như thế nào nếu tôi quay lại chiến trường.
Ba người với những huy chương này thì giống như những con quạ săn mồi; và tôi không là con quạ, mặc dù tôi có vẻ như là con quạ với những người chưa bao giờ đi săn; ba người họ biết rõ hơn ai hết và vì thế chúng tôi dần xa cách. Nhưng tôi vẫn là bạn tốt với thằng bị thương ngày đầu ra quân ở chiến trường, vì nó sẽ không bao giờ biết nó sẽ trở thành như thế nào; vì thế nó cũng không bao giờ chấp nhận nữa; và tôi thích nó bởi vì tôi nghĩ có lẽ nó sẽ không trở thành một con diều hâu nữa.
Ông thiếu tá, người từng là tay kiếm vĩ đại, không tin vào sự can đảm, và dành nhiều thời gian trong khi tôi ngồi ở máy tập để sửa lỗi văn phạm của tôi. Ông ta khen tôi ở cách tôi nói tiếng ý, và tôi đã nói với nhau một cách rất dễ. Một hôm tôi nói rằng tiếng ý có vẻ như là ngôn ngữ dễ với tôi và tôi không thể quan tâm nhiều về nó; mọi việc thì quá dễ để nói. “À thế àh,” thiếu tá nói. “Thế sao anh không áp dụng văn phạm đi?” Vì thế chúng tôi áp dụng văn phạm, ngay tức khắc tiếng ý là ngôn ngữ khó và tôi sợ nói với ông đến khi nào tôi có sẵn văn phạm trong đầu.
Ông thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn, tôi không nghĩ ông ta vắng một ngày, dù vậy tôi chắc ông ta không tin vào các máy này. Có một lần khi không ai trong số chúng tôi tin các máy này, và một hôm ông thiếu tá nói các thứ đó là vớ vẩn. Các máy này là mới lúc đó và chúng tôi là những người chúng minh chúng. Đó là một ý tưởng ngu ngốc, ông nói, “một lý thuyết giống như những lý thuyết khác”. Tôi đã không học văn phạm, và ông ấy nói tôi là một thằng ngu bị ghét bỏ không thể ngờ được, và ông ta là thằng ngu nếu bận tâm đến tôi. Ông ta nhỏ người và ngồi thẳng người trên ghế, bàn tay phải thọt vào máy và nhìn thẳng đầu vào bức tường trong khi các dây đai đập lên xuống vào các ngón tay ông.
“Giả sử chiến tranh đi qua thì anh làm gì lúc đó?” ông ta hỏi tôi. “Nói một cách có văn phạm đấy nhé!”
“Tôi sẽ đi Mỹ.”
“Anh có gia đình chưa?”
“Chưa, nhưng tôi hy vọng sẽ có.”
“Anh càng khùng hết biết,” ông nói. Ông ta có vẻ rất giận. “Đàn ông không được lập gia đình.”
“Vì sao, thưa ngài thiếu tá?”
“Đừng gọi tôi là ngài thiếu tá.”
“Thế tại sao đàn ông không được lập gia đình?”
“Nó không thể cưới vợ. Nó không thể cưới vợ,” ông nói một cách giận dữ. “Nếu nó sẽ mất mọi thứ, nó không nên đặt chính nó vào vị trí để mất đó. Nó không nên đặt chính nó vào vị trí để mất. Nó nên tìm những thứ nó không thể mất.”
Ông ta nói một cách rất giận dữ và cay đắng, nhìn thẳng đầu xa xa trong khi ông nói.
“Nhưng sao anh ấy cần thiết mất nó?”
“Anh ấy sẽ mất nó,” thiếu tá nói. Ông đang nhìn vào bức tường. Sau đó ông nhìn xuống cái máy và giựt bàn tay bé ra khỏi các dây đai và đập mạnh nó vào đùi ông. “Anh ta sẽ mất nó,” ông ta hầu như thét lên. “Đừng có cãi tôi!” Sau đó ông gọi người trông coi máy. “Đến và tắt cái máy chết tiệt này đi.”
Ông ta đi trở vào phòng khác để điều trị nhẹ và mát-xa. Sau đó tôi nghe ông hỏi bác sĩ liệu ông có thể dùng điện thoại không và đóng cửa phòng lại. Khi ông quay trở lại phòng tập, tôi đang ngồi ở máy khác. Ông đang mặc áo khoác không tay và đội nón lưỡi trai, và ông đi thẳng hướng đến máy tôi và đặt cánh tay ông lên vai tôi.
“Tôi xin lỗi, ” ông nói, và vỗ nhẹ vào vai tôi bằng bàn tay lành lặn. “Tôi sẽ không thô lỗ nữa. Vợ tôi vừa mới mất. Anh phải tha thứ cho tôi.”
“Ô, tôi thật xin lỗi.” tôi nói và cảm thấy thương nhớ ông.
Ông đứng bậm môi dưới lại. “Nó rất khó,” ông nói. “Tôi không thể chấp nhận chính tôi.”
Ông nhìn thẳng qua tôi và nhìn ra ngoài qua cửa sổ. Rồi ông bắt đầu khóc. “Tôi hoàn toàn không thể chấp nhận chính tôi,” ông nghẹn ngào nói. Và sau đó bật khóc, đầu ông ngữa thẳng lên nhìn không đâu, đứng thẳng như người lính, những giọt nước mắt rơi trên đôi má và bậm đôi môi lại, ông đi qua những máy này và ra ngoài cửa.
Bác sĩ bảo tôi rằng vợ thiếu tá, người rất trẻ và ông ấy không cưới đến khi ông bị thương tật hoàn toàn ngoài chiến trường, đã mất vì lao phổi. Cô ấy bệnh chỉ vài ngày. Không ai nghĩ cô ấy mất. Thiếu tá không đến bệnh viện suốt ba ngày. Sau đó ông đến vào những giờ như thường lệ, đeo khăn đen trên cánh tay áo đồng phục. Khi ông trở lại, có những bức ảnh lồng khung lớn quanh tường, về mọi lại chấn thương trước và sau khi chúng được điều trị bằng các máy này. Trước máy ông thiếu tá từng dùng là ba tấm ảnh về những bàn tay giống tay ông và chúng hoàn toàn được phục hồi. Tôi không biết bác sĩ lấy chúng ở đâu. Tôi luôn luôn hiểu chúng tôi là những người đầu tiên dùng các máy này. Các bước ảnh không tạo khác biệt nhiều đối với thiếu tá vì ông chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ.

Saturday, August 23, 2008

If Tomorrow Never Comes

If Tomorrow Never Comes
Nếu ngày mai không bao giờ đến

Source : englishclub.us , Sunflower No.175

We live in a time when our life can change suddenly and without warning. This is the lottery generation when a simple piece of paper can make you rich and launch you into a completely different social status. This is the stock market generation when a jump in stock value followed by quick sale can make you a millionaire or put you in the poor house overnight.
This is also generation where people live in fear of catastrophe1 every time they drive a car, walk down a street at night, go to work or merely go to sleep at night in the privacy of their own home. Change often comes suddenly and without warning. Too often I have spoken to people who were distraught2 at the loss of a loved one and who were beating themselves up for not spending more time with them in the final days before their death.

They spend agonizing3 days, weeks and sometimes years in what I call the "If I knew it would be the last time.." depression.
Many years ago I decided that I would adopt the "What if this is the last time..." philosophy of life. I have discovered that it leaves me at peace with the world more often and provides me with a healthy perspective on life.
It is difficult at times to maintain this philosophy, and every so often I find myself regretting some action or comment that I have made. At those times I say to myself, "What if this is the last time I ever see that person? Is that how I want to be remembered, or how I want to remember him/her?"
I invite my readers to consider adopting this philosophy, even for a short trial period. See if it changes the way you look at life.
When you tuck4 your child in tonight, ask yourself what you would do if you knew this might be the last time you ever saw your child fall asleep. Would you give him/her an extra hug? Would you take a few minutes to lie beside your child? Would you be in such a hurry to get back to the television set?
When you leave for work in the morning, if you knew this might be the last time you ever said good-bye, would you get up a few minutes earlier so that you would have time to say good-bye to everyone and wish them all the best for the day? Would you say, "I love you" one extra time to your spouse? Would you get upset5 because your favourite shirt wasn't ironed? Would you smile and wave as you were pulling out of the driveway?
When you have an argument or disagreement with a friend, a co-worker, or a loved one, if you knew this might be the last time you would see that person, would you make an extra effort to solve the problem before you left? Would you apologize for your actions or comments before you left? Would you roll over and go to sleep knowing that you have upset your spouse?
You must always remember that tomorrow is not promised to anyone. Today may be the last day of your life or the last day in the life of a loved one. You may never get a second chance to say "I love you"; to spend time with your children; to spend time with your spouse; or to spend time with your parents.
So if you are waiting until tomorrow to do something special for a loved one, why not do it today? If you want to say you are sorry for something you did, why not do it today? If you have been trying to find time to make that phone call or write that letter, why not do it today? For if tomorrow never comes, you will surely regret that you didn't take the extra time to grant to someone, what may have turned out to be their last wish

Nếu ngày mai không bao giờ đến
Translated by DungLH , HCM – 16 Aug 2008 ( 16 July 2008 lunar calendar, anniversary of my birth )
Chúng ta sống trong một thời đại mà cuộc sống của chúng ta có thể thay đổi thình lình không có cảnh báo trước. Đây là thời đại mai rủi khi mà một miếng giấy đơn giản có thể làm bạn giàu và đưa bạn vào trạng thái xã hội hoàn toàn khác. Đây là thời đại thị trường chứng khoán khi một sự nhảy vọt trong giá trị chứng khoán sau đó là việc bán nhanh có thể biến bạn thành triệu phú hay để bạn qua đêm trong căn nhà nghèo khổ.
Đây là thời đại người ta sống trong sợ hãi của tai ương mỗi khi họ lái xe, dạo phố buổi tối, đi làm hay chỉ ngủ trong căn nhà riêng cách ly với bên ngoài của họ. Thay đổi đến bất ngờ và không cảnh báo. Tôi thường nói với những người bị điên cuồng vì sự mất mát người thân và những người tự đánh đập chính bản thân họ vì không dành nhiều thời gian với người thân trong những ngày cuối cùng trước khi thân nhân họ qua đời.
Họ trãi qua những ngày, những tuần hoặc đôi khi những năm tháng đau khổ trong cái gọi sự suy sụp “Giá mà tui biết đó là lần cuối cùng..”.
Cách đây nhiều năm tôi quyết định nuôi triết lý sống “Sẽ là gì nếu đây là lần cuối cùng…”. Tôi phát hiện rằng nó để tôi bình yên với thế giới này hơn và đưa tôi viễn cảnh khỏe mạnh về cuộc sống.
Nhiều khi khó để duy trì triết lý này, thỉnh thoảng chính tôi cảm thấy hối tiếc vài hành động hay lời nói tôi đã làm. Ở những lúc như thế tôi nói với chính tôi, “chuyện gì nếu đây là lần cuối cùng tôi thấy người đó? Đó có phải là cách tôi muốn được nhớ, hay là cách tôi muốn nhớ anh ấy/cô ấy?”
Tôi mời độc giả của tôi cân nhắc việc nuôi triết lý này, thậm chí thử một thời gian ngắn. Xem liệu nó thay đổi cách bạn nhìn cuộc đời.
Khi bạn đắp chăn con bạn buổi tối, hãy hỏi chính bạn những gì sẽ làm nếu bạn biết đây là lần cuối cùng bạn thấy con bạn ngủ say. Bạn sẽ ôm con bạn thêm nữa? Bạn sẽ dành vài phút nằm bên cạnh con bạn? Hay bạn sẽ vội vã quay trở lại cái tivi?
Khi bạn đi làm buổi sáng, nếu bạn biết đây có thể là lần cuối cùng bạn nói tạm biệt, bạn sẽ thức dậy sớm vài phút để bạn có thời gian nói tạm biệt mọi người và chúc tất cả họ điều tốt nhất cho ngày này? Bạn sẽ nói “anh yêu em” thêm lần nữa tới bạn đời của mình? Bạn sẽ bực bội vì áo sơ mi yêu thích của bạn không được ủi? Bạn sẽ mỉm cười và vẫy chào khi lái xe ra khỏi nhà?
Khi bạn tranh cãi hay bất đồng với một người bạn, đồng nghiệp, hay người thân, nếu bạn biết đây có thể là lần cuối cùng bạn thấy người đó, bạn sẽ nổ lực thêm để giải quyết vấn đề trước khi bạn rời? Bạn sẽ lăn người qua và ngủ dù biết rằng bạn bực tức người ấy của mình?
Bạn phải luôn luôn nhớ rằng ngày mai không hứa với ai. Hôm nay có thể là ngày cuối của bạn hoặc của người thân của bạn. Bạn sẽ không bao giờ có cơ hội thứ hai để nói “anh yêu em”; để dành thời gian với con bạn; với bạn đời; hay với cha mẹ của bạn?
Nếu bạn đang đợi đến ngày mai mới làm gì đó đặc biệt cho người thân, tại sao không làm nó hôm nay? Nếu bạn muốn nói bạn hối tiếc về cái gì đó bạn đã làm, tại sao không làm nó hôm nay? Nếu bạn đang có tìm thời gian để thực hiện cuộc điện thoại hay viết thư đó, sao không làm nó hôm nay? Vì nếu ngày mai không bao giờ đến, bạn sẽ chắc chắn hối tiếc rằng bạn không bạn đã không dành thêm thời gian cho ai đó, những gì có thể trở thành ước muốn cuối của họ.
· Cầu chúc mọi người thực hiện được điều ước cuối cùng của bản thân và người thân của họ.
· Nhận xét bản dịch : Lời dịch của tác giả Thu Thủy bên dưới rất hay..
o This is the stock market generation when a jump in stock value followed by quick sale can make you a millionaire or put you in the poor house overnight.
§ [DungLH] Đây là thời đại thị trường chứng khoán khi một sự nhảy vọt trong giá trị chứng khoán sau đó là việc bán nhanh có thể biến bạn thành triệu phú hay để bạn qua đêm trong căn nhà nghèo khổ.
§ [ThuThuy] Đây là thời đại của thị trường chứng khoán khi một cú tăng vọt giá trị chứngkhoán được tiếp nối bằng một thương vụ nhanh chóng có thể biến bạn thành một triệu phú hay đặt bạn vào một căn nhà tồi tàn chỉ qua một đêm.
o Too often I have spoken to people who were distraught2 at the loss of a loved one and who were beating themselves up for not spending more time with them in the final days before their death.
§ [DungLH] Tôi thường nói với những người bị điên cuồng vì sự mất mát người thân và những người tự đánh đập chính bản thân họ vì không dành nhiều thời gian với người thân trong những ngày cuối cùng trước khi thân nhân họ qua đời.
§ [ThuThuy] Rất nhiều lần tôi đã nói với những người bị quẫn trí vì họ bị mất một người thân yêu và những người tự nguyền rủa họ vì họ đã không dành nhiều thì giờ hơn cho họ trong những ngày cuối cùng trước khi họ từ biệt cõi đời.
o They spend agonizing3 days, weeks and sometimes years in what I call the "If I knew it would be the last time.." depression.
§ [DungLH] Họ trãi qua những ngày, những tuần hoặc đôi khi những năm tháng đau khổ trong cái gọi sự suy sụp “Giá mà tui biết đó là lần cuối cùng..”.
§ [ThuThuy] Họ đã mất nhiều ngày, nhiều tuần lễ và đôi khi nhiều năm khổ sở cho cái mà tôi gọi là sự phiền muộn "Nếu tôi biết đó là lần sau cùng …"
o What if this is the last time...
§ [DungLH] Sẽ là gì nếu đây là lần cuối cùng…
§ [ThuThuy] Nếu như đây là lần cuối cùng… thì sao?
o I have discovered that it leaves me at peace with the world more often and provides me with a healthy perspective on life.
§ [DungLH] I have discovered that it leaves me at peace with the world more often and provides me with a healthy perspective on life.
§ [ThuThuy] Tôi đã khám phá ra rằng triết lý đó đã làm cho tôi sống hòa thuận với thế giới hơn và cho tôi một viễn cảnh lạc quan về cuộc sống.
o It is difficult at times to maintain this philosophy, and every so often I find myself regretting some action or comment that I have made.
§ [DungLH] Nhiều khi khó để duy trì triết lý này, thỉnh thoảng chính tôi cảm thấy hối tiếc vài hành động hay lời nói tôi đã làm.
§ [ThuThuy] Đôi khi cũng khó giữ vững triết lý này, và mỗi lần không giữ được triết lý ấy thì tôi lại thấy mình hối tiếc vì một hành động hay lời chỉ trích nào đó mà tôi đã làm.
o When you tuck4 your child in tonight
§ [DungLH] Khi bạn đắp chăn con bạn buổi tối
§ [ThuThuy] Khi bạn đặt con bạn vào giường ngủ đêm nay
o Would you give him/her an extra hug
§ [DungLH] Bạn sẽ ôm con bạn thêm nữa
§ [ThuThuy] Bạn có ôm chặt bé thêm một lần nữa không
o Would you roll over and go to sleep knowing that you have upset your spouse?
§ [DungLH] Bạn sẽ lăn người qua và ngủ dù biết rằng bạn bực tức người ấy của mình?
§ [ThuThuy] Bạn có lăn ra ngủ khi biết rằng bạn đã làm cho vợ/chồng bạn buồn lòng không?

Translated and annotated by TRẦN THỊ THU THỦY, b.a.
Chúng ta hiện sống trong một thời đại khi cuộc sống của chúng ta có thể thay đổi đột ngột không có dấu hiệu gì báo trước. Đây là thời đại xổ số khi mà chỉ một mẩu giấy đơn sơ có thể làm cho bạn giàu lên và nâng bạn lên một địa vị xã hội hoàn toàn khác. Đây là thời đại của thị trường chứng khoán khi một cú tăng vọt giá trị chứngkhoán được tiếp nối bằng một thương vụ nhanh chóng có thể biến bạn thành một triệu phú hay đặt bạn vào một căn nhà tồi tàn chỉ qua một đêm.
Đây cũng là thời đại mà con người sống trong lo sợ bị tai họa mỗi lần họ lái xe, đi bộ trên một con đường vào ban đêm, đi làm hay chỉ là đi ngủ vào ban đêm ở trong ngôi nhà riêng của họ. Sự thay đổi thường đến đột ngột và không được báo trước. Rất nhiều lần tôi đã nói với những người bị quẫn trí vì họ bị mất một người thân yêu và những người tự nguyền rủa họ vì họ đã không dành nhiều thì giờ hơn cho họ trong những ngày cuối cùng trước khi họ từ biệt cõi đời.
Họ đã mất nhiều ngày, nhiều tuần lễ và đôi khi nhiều năm khổ sở cho cái mà tôi gọi là sự phiền muộn "Nếu tôi biết đó là lần sau cùng …"
Nhiều năm trước đây tôi đã quyết định rằng tôi sẽ chọn triết lý sống "Nếu như đây là lần cuối cùng… thì sao?". Tôi đã khám phá ra rằng triết lý đó đã làm cho tôi sống hòa thuận với thế giới hơn và cho tôi một viễn cảnh lạc quan về cuộc sống.
Đôi khi cũng khó giữ vững triết lý này, và mỗi lần không giữ được triết lý ấy thì tôi lại thấy mình hối tiếc vì một hành động hay lời chỉ trích nào đó mà tôi đã làm. Những lúc đó tôi tự nhủ: "Nếu như đây là lần cuối cùng tôi gặp người đó thì sao? Có phải đó là cách tôi muốn được nhớ tới, hay cách tôi muốn nhớ tới anh ấy hay cô ấy?"
Tôi mời các độc giả của tôi xem xét việc chọn triết lý sống này, thậm chí chỉ thử trong một thời gian ngắn. Hãy xem liệu triết lý đó có thay đổi cách bạn nhìn cuộc sống hay không.
Khi bạn đặt con bạn vào giường ngủ đêm nay, hãy tự hỏi bạn sẽ làm gì nếu bạn biết đây có thể là lần cuối cùng bạn thấy con bạn ngủ. Bạn có ôm chặt bé thêm một lần nữa không? Bạn có dành vài phút để nằm bên cạnh con bạn không? Bạn có vội vã quay về với cái máy truyền hình không?
Vào buổi sáng khi bạn rời nhà để đi làm, nếu bạn biết đây có thể là lần cuối cùng bạn nói lời tạm biệt, bạn có thức dậy sớm hơn mọi ngày vài phút để bạn có thời giờ nói lời tạm biệt đến mọi người và chúc mọi người vạn sự tốt lành trong ngày không? Bạn có nói với vợ/chồng bạn "Anh/Em yêu em/anh" thêm một lần nữa không? Bạn có bực mình vì chiếc áo sơ-mi mà bạn rất thích vẫn chưa được ủi hay không? Bạn có mỉm cười và vẫy tay khi bạn lái xe ra khỏi nhà bạn hay không?
Khi bạn cãi nhau hay bất đồng ý kiến với một người bạn, một đồng nghiệp, hay một người thân yêu, nếu bạn biết đây có thể là lần cuối cùng bạn thấy người đó, bạn có cố gắng hơn nữa để giải quyết vấn đề trước khi bạn bỏ đi không? Bạn có xin lỗi vì những hành động hay những lời chỉ trích của bạn trước khi bạn đi không? Bạn có lăn ra ngủ khi biết rằng bạn đã làm cho vợ/chồng bạn buồn lòng không?
Bạn phải luôn luôn nhớ rằng không ai biết được ngày mai sẽ có chuyện gì xảy ra. Ngày hôm nay có thể là ngày cuối cùng trong cuộc đời của bạn hay là ngày cuối cùng trong cuộc đời của một người thân yêu. Bạn có thể không bao giờ có được cơ hội thứ hai để nói "Anh/Em yêu em/anh"; để dành thì giờ chơi với con bạn; để dành thì giờ cho vợ/chồng của bạn; hay để dành thì giờ trò chuyện với cha mẹ của bạn.
Vì vậy, nếu bạn đang chờ cho đến ngày mai để làm điều gì đó đặc biệt cho người bạn yêu quý thì tại sao bạn không làm điều đó hôm nay? Nếu bạn muốn nói là bạn xin lỗi vì một việc gì đó bạn đã làm thì tại sao bạn không làm điều đó hôm nay? Nếu bạn vẫn còn đang cố gắng dành thời giờ để gọi điện thoại hay để viết lá thư đó thì tại sao bạn không làm điều đó hôm nay? Vì nếu ngày mai không bao giờ đến, chắc chắn là bạn sẽ hối tiếc rằng bạn đã không dành thêm thì giờ cho ai đó, những gì có thể hóa ra là ước nguyện cuối cùng của họ.



NOTES: 1. catastrophe [ kO'tXstrOfi ] (n) = disaster = a sudden event that causes many people to suffer: tai họa.
2. distraught [ dI'strC:t ] (adj) = extremely upset and anxious so that you cannot think clearly: quẫn trí.
3. agonizing [ `XgOnaIzIN ] (adj) = causing great pain, anxiety or difficulty: khổ sở.
4. tuck [ tVk ] (v. t.) = to cover sb with sth so that they are warm and comfortable: đặt (con) vào trong chăn êm ấm.
5. upset [ ,Vp'set ] (adj) = unhappy or disappointed because of sth unpleasant that has happened: bực mình, bực bội.

Saturday, July 19, 2008

A man and his dog

A man and his dog

Source : englishclub.us


A man and his dog were walking along a road. The man was enjoying the scenery, when it suddenly occurred to him that he was dead. He remembered dying, and that his faithful dog had been dead for many years. He wondered where the road was leading them.
After a while, they came to a high, white stone wall along one side of the road. It looked like fine marble. As he reached the wall, he saw a magnificent gate in the arch,and the street that led to the gate made from pure gold. He and the dog walked toward the gate, and as he got closer, he saw a man at a desk to one side.
When he was close enough, he called out, "Excuse me, where are we?" This is heaven, sir," the man answered. "Wow! Would you happen to have some water? We have traveled far," the man said. "Of course, sir. Come right in, and I'll have some ice water brought right up." The man gestured1, and the gate began to open. "Can my friend," gesturing toward his dog, "come in, too?" the traveler asked.
"I'm sorry, sir, but we don't accept pets." The man thought a moment, remembering all the years this dog remained loyal to him and then turned back toward the road and continued the way he had been going. After another long walk he came to a plain dirt2 road, which led through a farm gate that looked as if it had never been closed. There was no fence. As he approached the gate, he saw a man inside, leaning against a tree and reading a book.
"Excuse me!" he called to the reader. "Do you have any water? We have traveled far." "Yes, sure, there's a faucet over there." The man pointed to a place that couldn't be seen from outside the gate. "Come on in and help yourself." "How about my friend here?" the traveler gestured to his dog. "There should be a bowl by the faucet; he is welcome to share."
They went through the gate, and sure enough, there was an old-fashioned faucet with a bowl beside it. The traveler filled the bowl and took a long drink himself, then he gave some to the dog. When they were full, he and the dog walked back toward the man who was standing by the tree waiting for them. "What do you call this place?" the traveler asked. "This is heaven," was the answer. "Well, that's confusing," the traveler said. "The man down the road said that was heaven, too." "Oh, you mean the place with the gold street and pearly gates? Nope. That's hell." "Doesn't it make you mad for them to use your name like that?" "No. We're just happy that they screen out3 the folks who'd leave their best friends behind in exchange for material things."


Người đàn ông và con chó
Translated by DungLH , HCM – 19 July 2008 – Ngoại bệnh
Một người đàn ông và con chó đang đi dọc trên một con đường. Người đàn ông đang thưởng ngoạn, khi đó thình lình xảy đến với ông rằng ông biết mình đã chết. Ông nhớ đến cái chết này, và con chó trung thành của ông cũng đã chết nhiều năm rồi. Ông tự hỏi con đường này đang dẫn họ tới đâu?

Sau một hồi ông tới bức tường đá cao trắng dọc theo một bên đường. Nó giống như những viên cẩm thạch đẹp. Khi ông đến bức tường này, ông thấy một cổng đẹp hình vòm cung, và con đường dẫn họ đến cổng được làm bằng vàng ròng. Ông và con chó đi về phía cổng, và khi ông đến gần hơn, ông thấy một người đàn ông ở cái bàn phía bên kia cổng.

Khi ông đến gần, ông gọi , “xin lỗi chúng tôi đang ở đâu vậy?”, Người đàn ông trả lời “Đây là thiên đường thưa ngài”. “Ồ! Ông có nước không cho chúng tôi xin một ít? Chúng tôi đã đi xa rồi”. “Ồ có, thưa ngài. Mời vào, và tôi sẽ có chút nước đá mang ngay lên đây.” Người đàn ông làm động tác ra hiệu và cái cổng bắt đầu mở. “Bạn tôi cũng được vào nữa đúng không?” khách bộ hành chỉ về phía con chó.

“Xin lỗi ngài chúng tôi không chấp nhận thú nuôi.” Người đàn ông này nghĩ một hồi, nhớ lại những năm tháng con chó này hết mực trung thành với ông và rồi quay lại con đường tiếp tục đi. Sau khi đi bộ một hồi lâu nữa ông đến một con đường đất dơ, nó dẫn tới cổng trang trại trông như thể nó chưa bao giờ được đóng. Không có hàng rào. Khi ông đến gần cổng, ông thấy một người đàn ông bên trong, tựa người vào cây và đọc sách.

Ông gọi người đọc này ““Xin lỗi! Anh có chút nước nào không? Chúng tôi đã đi xa.” “Vâng có cái vòi nước ở đằng kia.” Người đàn ông chỉ về nơi mà không thể thấy từ ngoài cổng. “Hãy vào và uống đi.” “Thế còn bạn tôi đây thì sao?” khách bộ hành chỉ về phía con chó. “Có cái chén cạnh vòi nước; nó cũng đáng được uống chứ.”

Họ đi vào cổng, và chắc thấy có vòi nước cũ và cái chén bên cạnh. Ông khách rót nước vào chén và ngụm một hơi dài, sau đó đưa một ít cho con chó. Khi đã uống no, ông và con chó trở lại phía người đàn ông đang đứng cạnh cây đợi họ. Ông khách hỏi “Đây là nơi nào thế?”. Ông kia đáp “Đây là thiên đường”. “Ồ sao khó hiểu,” ông khách nói. ”Người đàn ông dưới con đường này cũng nói dưới đó là thiên đường. ” “Ồ anh muốn nói đến nơi có đường vàng cổng ngọc đó hả? Không đâu. Địa ngục đấy.” ”Ông có buồn khi họ dùng tên của ông cho một nơi như thế?” “Không. Chúng tôi hạnh phúc vì họ đã lọc bỏ những người để bạn tốt nhất của họ lại để trao đổi vật chất gì đấy.”

Comment : Đừng tham vật chất, cũng như nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá. Bạn quanh ta là những người đáng để trân trọng và nuôi dưỡng.