Monday, December 29, 2008

A fateful love of sweetness and sorrow

A fateful love of sweetness and sorrow

Collected by dunglh – From Sunflower No. 90, Mar 2001

LTS: Kỳ này, Sunflower hân hạnh giới thiệu với các bạn bài viết rất cảm động sau đây của Nga Doan đăng trên nhật báo San Jose Mercury News, số ra ngày 03/2/2001. Nga Doan hiện đang sống ở Thành phố Mountain View, miền Bắc California, Hoa Kỳ.

Summer was my favorite time of year. I would stay with my grandmother in her small house along a quiet beach. It was also then when I would be spellbound by her folk tales.
I remember my grandma was very old but her mind was still quite sharp. She remembered clearly the stories of her youth and her children. Every night I asked her to tell me at least one story before I went to bed. Some tales I had heard over and over, but I never got bored with them. There was one, though, that she told me just a single time, in the summer when I was 10 years old. It went this way.
A long time ago, in a small village near a beach, there was a girl named Sam. Sam was not beautiful, but she seemed lovely because of her graceful smile. She was capable, clever and very well-behaved. Many young men in the village fell in love with her, but her heart was not open for them. It belongs to a young man named Jame who had just come to work for a fisherman in her village.
Their story began on a rainy afternoon.
“Excuse me, little sister!”
Sam looked back and saw Jame holding a big fish in his hands. Her heart suddenly began pounding, and her face turned red. She couldn’t understand why she had such strange feelings.
“Do you want to buy this fish?” he asked.
“Oh, no thanks. I just bought some from the store.”
“Really? But if you want, You can take it. It’s free.”
Sam was totally captivated by Jame. She didn’t know how to respond and turned away when she realized he was looking at her passionately.
“Umm, if you want to sell the fish I can do that for you”, Sam finally suggested.
So she took the fish from him and ran to her friend’s house. Several minutes later she came back and gave the money to Jame.
From that day on, Sam had a job. Every afternoon she and Jame went around the village to sell fish. She began to learn more about his background. He had been an orphan since he was 3, and had no relatives living nearby. He’d had to work since he was very little.
He also moved from place to place and worked many different jobs before finally arriving at Sam’s village. The more Sam know about Jame, the more sympathy and passion she had for him. It was the same for Jame.
Their relationship gradually developed into the sweetest love in the world. They promised they would be side-by-side forever. However, their dream didn’t come true, even though their love for each other never changed.
There was an afternoon in September, as peaceful as any other afternoon. Jame and many other fishermen set out for another fishing journey. Nobody knew that it would be a fateful one. For some reason, the god of the sea got angry that night and didn’t let anyone come back. Many dead bodies were found several days later, but none of them was Jame. But that was good for Sam, because she held out hope that Jame had been spared. She waited and waited with a burning heart full of worry.
Time went by and people in the village began to return to their normal work. There was only Sam, who every day looked for the return of Jame’s ship. She had a feeling he was still alive somewhere and would come back her.
But five years passed since that fateful day. Sam was now 24, and according to the tradition of her village, she was about to pass out of the marriageable age, and that would bring shame to her family. Sam could not live outside that tradition. She agreed to marry a rich man in the village. Her heart was broken, but she had no choice.
Sam tried to console herself with the thought that it was her fate, and she hoped the wound in her heart would be healed with time.
But God didn’t let her life proceed that way. The day Sam put on her bride’s dress was the day Jame came back painfully in darkness – he was blind. He was sitting under the arbutus trees where he and Sam had had their dates.
Sam felt her heart squeeze. She wanted to run to him, hug him and tell him how much she missed, how she loved and worried for him. But she couldn’t. She now belonged to another man; she was walking beside her groom.
She had betrayed Jame. She didn’t know why God was so unfair to her, to give her sorrow and sadness. She walked by Jame with a tortured heart and she knew the wound in her heart would never be healed.
Grandma, I now understand why you cried when you told me this “folk tale”. The diary I accidentally found in your brief-case told me the story is not a folk tale, but is indeed your very own life. I now also understand why you refused to live with us in the city but decided to stay in that village after Grandpa had passed away, and why you wanted Mom and Dad to bury you under the arbutus trees. How could you leave the place where you had so many memories, both sweet and painful?
I love you, Grandma! I wish you were still alive so that I could share with you your sadness.


Một mối tình ngọt ngào và đau khổ đầy định mệnh

Translated by dunglh, HCM – 14 Dec 2008

Mùa hè là thời gian trong năm yêu thích của tôi. Tôi sẽ ở với bà tôi trong ngôi nhà nhỏ dọc theo một bãi biển yên tĩnh. Đó cũng là lúc tôi sẽ bị cuốn hút bởi các câu chuyện dân gian của bà.

Tôi nhớ bà tôi rất già nhưng tâm trí bà thì hoàn toàn minh mẫn. Bà nhớ rất rõ những câu chuyện về thời trẻ của bà và về các con của bà. Hằng đêm tôi đều đòi bà kể tôi nghe ít nhất một câu chuyện trước khi tôi đi ngủ. Có vài chuyện tôi đã nghe đi nghe lại, nhưng tôi không bao giờ chán với chúng. Tuy nhiên có một câu chuyện bà kể tôi nghe chỉ một lần duy nhất, vào mùa hè khi tôi lên 10 tuổi. Câu chuyện như thế này.

Cách đây đã lâu rồi, trong một làng nhỏ gần một bãi biển, có một cô gái tên Sam. Sam không đẹp, nhưng có vẻ đáng yêu vì có nụ cười duyên. Cô ấy giỏi gian, lanh lợi và có hạnh kiểm rất tốt. Nhiều thanh niên trong làng đem lòng yêu cô, nhưng trái tim cô không rộng mở đón nhận họ. Nó lại thuộc về một anh chàng trẻ tên Jame người vừa mới đến để làm việc cho một ngư dân trong làng của cô.
Câu chuyện bắt đầu vào một buổi chiều trời mưa.
“Xin lỗi, cô em bé nhỏ!”
Sam quay lại nhìn và thấy Jame đang cầm một con cá lớn trên đôi tay của anh. Con tim cô thình lình đập mạnh, và mặt cô ửng đỏ. Cô không hiểu tại sao cô có những cảm giác lạ như thế.
“Em có muốn mua con cá này không?” anh ta hỏi.
“Ô không, em cảm ơn. Em vừa mới mua vài con ở cửa hàng.”
“Thật thế àh? Nhưng nếu em muốn, em có thể cầm lấy nó. Không lấy tiền đâu.”
Sam hoàn toàn bị mê hoặc bởi Jame. Cô không biết làm thế nào để đáp lại và quay mặt đi khi cô nhận ra anh đang nhìn cô một cách say đắm.
Cuối cùng Sam đề nghị “Ườm, nếu anh muốn bán con cá này em có thể làm việc đó giúp anh”.
Thế là cô cầm lấy con cá từ anh và chạy tới nhà bạn của cô. Nhiều phút sau cô trở lại và đưa tiền cho Jame.
Từ hôm đó trở đi, Sam có một việc làm. Mỗi buổi chiều cô và Jame đi quanh làng để bán cá. Cô bắt đầu biết nhiều hơn về thân thế của anh. Anh mồ côi từ khi lên 3 tuổi, và không có người thân họ hàng sống gần đây. Anh đã phải làm việc từ khi anh còn rất nhỏ.
Anh cũng di chuyển từ nơi này tới nơi khác và làm nhiều nghề khác nhau trước khi cuối cùng đến làng của Sam. Sam càng biết về Jame, cô càng có thiện cảm và yêu mến anh. Điều này cũng tương tự đối với Jame.
Quan hệ của họ dần dần phát triển thành một mối tình ngọt ngào nhất trên đời. Họ hứa họ sẽ bên nhau mãi mãi. Tuy nhiên, giấc mơ của họ đã không thành hiện thực, mặc dù thậm chí tình cảm họ dành cho nhau không bao giờ thay đổi.
Có một buổi chiều tháng 9, yên bình như những buổi chiều khác. Jame và nhiều ngư dân khác ra khơi cho một chuyến đánh cá nữa. Không ai biết rằng nó sẽ là một chuyến đi đầy định mệnh. Vì lý do nào đó, thần biển nổi giận đêm đó và không để cho bất cứ ai trở về. Nhiều xác chết được tìm thấy nhiều ngày sau đó, nhưng không ai trong số họ là Jame. Nhưng điều đó tốt cho Sam, vì cô nuôi hy vọng rằng Jame đã được tha. Cô đợi và đợi với một trái tim cháy bổng đầy lo lắng.
Thời gian trôi qua và người dân trong làng bắt đầu trở lại với công việc bình thường của họ. Duy chỉ có Sam, người lúc nào cũng ngóng tìm sự trở lại con thuyền của Jame. Cô có linh cảm anh vẫn còn sống đâu đó và sẽ trở về với cô.
Nhưng 5 năm trôi qua kể từ ngày đầy định mệnh đó. Sam bây giờ 24 tuổi, và theo truyền thống của dân làng, cô sắp qua khỏi cái tuổi có thể lập gia đình, và việc đó sẽ mang điều xấu hổ cho gia đình cô. Sam không thể sống ngoài truyền thông đó. Cô đồng ý cưới một người giàu có trong làng. Trái tim cô tan vỡ, nhưng cô không có sự lựa chọn khác.
Sam cố tự an ủi mình với suy nghĩ rằng đó là định mệnh của cô, và cô hy vọng vết thương trong trái tim cô sẽ được hàn gắn theo thời gian.
Nhưng ông trời đã không để cuộc đời cô diễn ra theo cách đó. Cái ngày Sam khoác áo cô dâu là ngày Jame trở về một cách đau đớn trong tối tăm – anh bị mù. Anh đang ngồi dưới những cây dương mai nơi anh và Sam từng hẹn hò.
Sam cảm thấy con tim cô quặn đau. Cô muốn chạy đến anh, ôm ghì lấy anh và nói cho anh biết cô nhớ, yêu và lo lắng cho anh nhiều như thế nào. Nhưng cô không thể. Cô bây giờ thuộc về một người đàn ông khác; cô đang đi bên cạnh chú rể của mình.
Cô đã phản bội Jame. Cô không biết tại sao ông trời quá bất công với cô, đưa cho cô sự đau khổ và nỗi buồn rầu. Cô đi ngang qua Jame với một cõi lòng đau đớn và cô biết vết thương này sẽ không bao giờ được hàn gắn.
Bà. Bây giờ con hiểu vì sao bà khóc khi kể con nghe “câu chuyện dân gian“ này. Cuốn nhật ký con vô tình tìm thấy trong cặp sách của bà nói con biết câu chuyện này không phải là chuyện dân gian, mà sự thực là đời sống của riêng bà. Con cũng hiểu tại sao bà từ chối sống trên thành phố với chúng con mà quyết định ở trong ngôi làng đó sau khi ông đã qua đời, và vì sao bà muốn ba và mẹ chôn bà dưới những cây dương mai. Làm sao bà có thể rời bỏ cái nơi bà có quá nhiều kỉ niệm, cả ngọt ngào và đau khổ?
Con yêu bà, Bà ơi! con ước chi bà vẫn còn sống để con có thể chia sẽ cùng bà những nỗi buồn của bà.
* Her heart belongs to Jame, but her body belongs to another man...

A Giant Mystery

http://www.articlearchives.com/362603-1.html

A Giant Mystery
By: Wrang, LauraPublication: Highlights for Children Date: Friday, September 1 2000

The sound of the clock made Bridget jump. It had been so quiet in the living room. Her eyes went to the carved black case on the desk. Inside it, the clock continued to chime. The notes sounded sad and empty.
Everything seemed empty in Rose Cottage since Grandpa had died. He'd lived here
for eighty-two years, and Bridget had visited him every summer of her life. Now the cottage would be sold.
"You can keep something to remember Grandpa by," Mom had said.
Bridget looked away from the clock. That wasn't what she needed to remind her of Grandpa's teasing eyes and his hugs. Would a book make her think of him? She went to the shelf, but most of the books looked boring. Then she saw a paper sticking out of a book. Gently she pulled it out.
A date was written on one side of the paper: February 1, 1927. On the other side was something exciting. Bridget gave a shout that brought her brother running.
"Look what I found," Bridget said.
Colin took the paper and glanced at the date, then gasped when he saw the other side. Above a drawing were the words My Treasure Map.
"Grandpa always said he'd buried a treasure on his land," Bridget said. "I thought he was teasing."
"So did I," Colin said. "This map proves that he wasn't."

It was a simple map: just a big circle that said The Giant and an arrow pointing from it with the words Twenty-Yard Walk. At the end of the arrow was a small circle marked Stone, and an X.
"The Giant is what Grandpa called that big boulder," Bridget said.
"And the treasure is buried under a stone twenty yards from it," Colin said. "Let's go!"
They ran outside and grabbed shovels from the shed. They raced across a field to The Giant. It was the only big boulder on the Iowa farm, and it stood beside a stream.
Colin started to walk away from The Giant. It wasn't easy to measure twenty yards with his short strides, but a glance around the field showed only two stones that could hide the treasure.
"This one first," Colin said, rolling aside the bigger stone.
Bridget thrust her shovel into the dirt. What could the treasure be? "Gold bars," she guessed. "Or jewels--a chest full of sapphires and diamonds."
Did the old treasure map make sense?
Colin laughed. "Be realistic, Bridget. I'll bet it's money."
"Enough to buy a new computer or a bike?"
"Maybe enough to save this place," Colin said. "If we find a lot of money, Mom won't have to sell the cottage. We can always spend our summers here."
Bridget knew it wouldn't be the same without Grandpa, but she loved the old cottage. The thought of saving it spurred her on. She tightened her grip on the shovel and dug harder. But half an hour later, all they'd uncovered was dirt.
"It must be under the other stone," Colin said.

They moved to the other spot and dug for an hour. Bridget's arms began to ache, and her face burned in the sunlight. "The treasure isn't here either," she said. She turned and walked back toward the cottage. Colin gritted his teeth and kept digging.
Bridget went into the cottage and stared at Grandpa's map. Was there something she had missed? Some clue she hadn't snapped up? She searched the drawing inch by inch, then turned over the paper. The only thing there was the date.
"I've got it!" Bridget cried. She raced outside and grabbed her shovel and headed for the stream near The Giant.
"Where are you going?" Colin called. "Wait for me."
Colin dashed to the stream, too. Bridget was already in the rowboat that was always tied near the bank, waiting for anyone who wanted to cross.
Bridget didn't say a word as they rowed across the stream. Then she led the way to a single stone near the opposite bank. She didn't need the shovel. She just rolled aside the stone and uncovered a metal box.
Colin gasped. "How did you know?"
Bridget smiled. "The map was made in the middle of winter. Grandpa crossed the stream. He walked across the ice!
"There's something else we forgot," she continued. "The year was 1927. Grandpa hid this box when he was a little boy!"
Colin groaned as he opened the box. There was no money inside, no jewels or gold bars either. Just small metal soldiers.
But Bridget smiled. For her, the toy soldiers really were a treasure. She'd wanted something special to remember Grandpa by. As she touched his boyhood toys, she felt his presence close and warm.

Một bí mật khổng lồ
Translated by DungLH, HCM – 04 Dec 2008

Âm thanh của cái đồng hồ khiến cho Bridge giật mình. Nó đã quá yên lặng trong cái phòng khách này. Đôi mắt nó dõi đến cái thùng màu đen được chạm khắc. Bên trong nó, cái đồng hồ tiếp tục kêu reng. Những âm thanh phát ra nghe buồn và vắng lặng.
Mọi thứ có vẻ như trống vắng trong căn nhà tranh màu hồng này kể từ khi ông ngoại qua đời. Ông đã sống ở đây suốt 82 năm, và Bridge đã viếng thăm ông cứ mỗi mùa hè trong đời của nó. Bây giờ căn nhà này sẽ bị bán.
“Con có thể giữ cái gì đó để nhớ đến ông,” mẹ nói.
Bridget rời mắt khỏi cái đồng hồ này. Cái đó không là thứ nó cần để nhắc nó về cặp mắt đùa cợt và những có ôm ghì của ông. Liệu một cuốn sách sẽ làm nó nhớ đến ông chăng? Nó đi đến cái kệ sách, nhưng hầu hết các cuốn sách trông chán ngắt. Sau đó nó thấy một miếng giấy dính bên ngoài của một cuốn sách. Nhẹ nhàng nó kéo miếng giấy ra. Ngày được viết trên một mặt của miếng giấy này là: ngày 1 tháng 2 năm 1927. Ở mặt bên kia của miếng giấy là cái gì đó thú vị. Bridget hô la lên khiến em trai của nó chạy tới.
“Nhìn xem chị đã tìm được gì nè,” Bridget nói.
Colin cầm lấy tờ giấy và liếc nhìn cái ngày ghi trên đó, thế rồi nó thở hổn hểnh khi thấy mặt bên kia tờ giấy. Trên một bản vẽ là dòng chữ Bản Đồ Kho Báo Của Tôi.
“Ông ngoại luôn luôn nói ông đã chôn một kho báo trên vùng đất của ông,” Bridget nói. “Chị nghĩ ông đang nói đùa.”
“Em cũng nghĩ thế,” Colin nói. “Bản đồ này chứng tỏ ông không nói đùa.”
Đó là một bản đồ đơn giản: chỉ một vòng tròn to nói rằng The Giant và một mũi tên đang chỉ từ nó với dòng chữ 20 thước Anh. Ở cuối của mũi tên là một vòng tròn nhỏ được đánh dấu Stone, và một chữ X.
“The Giant là cái ông ngoại đang nói đến hòn đá cuội to,” Bridget nói.
“Và kho báo được chôn dưới một hòn đá cách nó 20 thước,” Colin nói. “Chúng ta hãy đi!”
Họ chạy ra ngoài và chụp lấy những cái xẻng trong nhà kho. Họ chạy qua một cánh đồng để tới hòn đá The Giant. Nó là hòn đá cuội to duy nhất trên nông trại Iowa, và nó đứng bên cạnh một con suối.
Colin bắt đầu đếm bước từ hòn đá The Giant. Thật không dễ để đo 20 mét với những sải chân ngắn của nó, nhưng một cái liếc nhìn quanh cánh đồng này chỉ thấy duy nhất 2 hòn đá nơi có thể cất giấu kho báo này.
“Hòn đá này trước tiên,” Colin nói và lăn hòn đá to sang một bên.
Bridget sấn xẻng của nó xuống đất. Kho báo có thể là gì nhỉ? “Những thổi vàng,” nó đoán.”Hoặc đồ trang sức – một tủ đầy ngọc bích và kim cương.”
Bản đồ kho báo cũ này mang ý nghĩa đó đúng không?
Colin cười. “Hãy thực tế đi chị Bridget. Em cá nó là tiền.”
“Đủ tiền để mua một máy tính mới hay chiếc xe đạp?”
“Có thể đủ để cứu lấy nơi này,” Colin nói. “Nếu chúng ta tìm thấy nhiều tiền, mẹ sẽ không phải bán cái nhà này. Chúng ta luôn luôn trãi qua những mùa hè của mình ở đây.”
Bridget biết nó sẽ không giống như trước đây khi ông không còn, nhưng nó yêu cái nhà tranh cũ này. Suy nghĩ đến việc giữ lấy căn nhà đã thôi thúc nó. Nó cầm chật cái xẻng và đào tích cực hơn. Nhưng sau nữa giờ, tất cả những gì họ phát hiện chỉ toàn là đất.
“Nó phải ở dưới hòn đá khác,” Colin nói.
Họ đến một điểm khác và đào cả giờ đồng hồ. Hai cánh tay của Bridget bắt đầu đau, và khuôn mặt nó bị cháy nắng. “Kho báo cũng không có ở đây nữa,” cô bé nói. Nó quay lại và bước trở về cái nhà tranh này. Colin nghiến răng và tiếp tục đào.
Bridget đi vào trong nhà và nhìn chằm chằm vào bản đồ của ông ngoại. Liệu có gì đó nó bỏ sót không? Có manh mối nào đó mà nó đã không chụp lấy chăng? Nó dò tìm từng ly trên bản vẽ, sau đó lật qua mặt bên kia của tờ giấy. Điều duy nhất ở đó là ngày.
“Tôi hiểu ta rồi!” Bridget kêu lên. Nó chạy ra ngoài và chụp lấy xẻng và đi về phía con suối gần hòn đá to The Giant.
“Chị định đi đâu thế?” Colin gọi to. “Đợi em với.”
Colin cũng chạy theo đến con suối. Bridget lúc đó đã ở trên cái suồng, suồng này luôn luôn được buộc ở gần bờ, chờ xem có ai muốn băng qua suối hay không.
Bridget đã không nói lời nào khi họ chèo qua suối. Sau đó nó dẫn hướng đến một hòn đá nằm gần bờ bên kia suối. Nó không cần xẻng. Nó chỉ lăn hòn đá qua một bên và để lộ ra một hộp kim loại.
Colin thở hổn hển nói, “Làm sao chị biết vậy?”
Bridget mỉm cười. “Bản đồ này được vẽ vào giữa mùa đông”. Ông ngoại đã băng qua con suối này. Ông đã bước ngang qua băng tuyết.
“Có cái gì khác chúng ta đã quên,“ nó nói tiếp. “Cái năm này là năm 1927. Ông ngoại đã chôn cái hộp này khi ông còn là một đứa bé!”
Colin lầm bầm khi nó mở hộp ra. Không có tiền bên trong, không có đồ trang sức, cũng không có thỏi vàng, mà chỉ là những thằng lính đồ chơi bằng kim loại nhỏ.
Nhưng Bridget mỉm cười. Đối với nó, những thằng lính đồ chơi này thật sự là một kho báo. Nó cần cái gì đó đặc biệt để nhớ đến ông. Khi nó chạm tay vào những đồ chơi thời trẻ của ông, nó cảm thấy sự hiện diện của ông gần gũi và ấm áp.

Saturday, December 6, 2008

Lần đầu ra Hà Nội

Lần đầu ra Hà Nội
by DungLH, HCM, 06-Dec-2008


Cuối năm 2005, chưa đầy 1 tháng nữa là tới Tết ta 2006. Tôi được QNM yêu cầu ra Hà Nội học Turbo và support những new members của CC HN. Hồi đó core team CC HN đều chuyển sang dự án Epson của Nhật. Gần Tết mà bị bắt đi cũng hơi chán. Nhưng lần đầu được đi máy bay, được học máy pocket PC, cộng thêm cái tâm của leader nên tôi vui vẻ nhận lời.

Cùng đi với tui là TTV_CC HN leader lúc đó, TTV đang công tác tại SG nên sẳn dịp dắt tui ra HN luôn. Cảm giác thích thú khi lần đầu ngồi trên máy bay chưa được bao lâu thì cái chán nản ập đến, khi máy bay hạ cánh, tai tui như có kiến bò lích nhích, nhức không chịu nỗi. Thấy tui bịch tai, TTV cười bảo “lần đầu đi máy bay ai cũng có cảm giác đó” .

Tuần đầu tui ở KS PD chung với KTA, aDLQ, aNNT. Những người này đang học khóa dành cho các PM ở Hà Nội. Cũng tại đây nên tui mới phát hiện ra aDLQ có sở thích là xem phim hoạt hình! Còn nhớ ảnh đã trốn học ít nhất 1 ngày chỉ nằm ở nhà coi hoạt họa.

Sau 1 tuần, mọi người đều trở về SG. HTTT thuê cho tui phòng khác trong hẻm cũng đầy đủ tiện nghi. Và kể từ đấy là lúc tui onsite một mình, lâu ngày, trong cái lạnh của Hà Nội.

Ngày đầu đến CC HN, TTV tổ chức buổi họp giới thiệu tui với mọi người. VMC báo cáo “Từ ngày có Turbo các em Sip hầu như làm việc gấp đôi. Nguyên nhân tool chưa ổn định”. Bỏ mẹ, phen này về SG support Turbo chắc chết. Ngoài thời gian support new member, tui được VMC train Turbo rất nhiệt tình, nhưng vì lúc đó tool hay bị lỗi nên tui vẫn chưa nắm được quy trình chuẩn, vì hầu như lúc nào cũng thấy can thiệp vào DB, úi trời cái mà tui sợ nhất.

Mỗi tối tôi thường đi bộ về phòng trọ, len lỗi trong các con hẻm kiếm ăn, và tui phát hiện ra quán cơm sinh viên hơi lạ. Lạ ở chỗ, nếu ở SG chỉ cần kêu dĩa cơm cá hay thịt gì đấy là được, còn ở đây tui phải gọi món đại loại như 1 ngàn cơm- 2 ngàn thịt – 1 ngàn rau,….

Tôi cũng được may mắn đi ăn cưới 1 người ở HN và lại thấy chuyện lạ nữa so với SG. Đó là mỗi bàn ăn đều có budget, người ta dọn cho mỗi bàn bao nhiêu chai bia và nước ngọt đúng budget thôi. Nếu mà muốn uống lấy uống để như SG cũng không có mà uống.

Saturday, October 25, 2008

Tiếng Anh giang hồ

Tiếng Anh giang hồ
( collected by dunglh, Hà Nội – 25 Oct 2008 )


Thì có chữ perfect: liên quan đến thứ tự hành động trước sau. Hành động trước dùng past perfect ( had + v3 ), hành động xảy ra sau dùng simple past ( S + v2 )
Vd : I had been CC before I went to deploy.
Vd: After I had arrived hotel, I had a meeting with distributor.
Cách nhớ:
i. Thứ tự trước sau theo bảng chữ cái là ABC. A trước B sau. A = After, B = Before.
ii. After + hành động 1 ( had + v3 )
iii. Before + hành động 2 ( S + v2 )

Thứ tự của tính từ: học thuộc bài thơ sau:
Sở hữu tính từ: vd: our 2 good fiends
Số đào hoa : number đứng trước tiên , vd : 2 red hat
Đẹp trai : opinion ( nice , good, …)
Chân dài : size ( long, short)
Tuổi dê : age ( old, new )
Hình dáng ra sao : shape ( thin, round )
Màu sắc thế nào : color ( red, white )
Nước gì chất chi : country of origin , material ( French , Fe)
Mục đích làm quen : purpose ( walking )
Noun

Lượng từ every : everywhere, everybody, everything,…
Đi với every thì động từ ở số ít. Vì every là “mọi” à “người mọi” à nên ít người.
Vd : everything is ok, everybody works good

Thêm es cho danh từ (cũng tương tự động từ đi sau ngôi thứ 3 số ít) :
Danh từ tận cùng 9 chữ vàng O X S Z Ch Sh Y F Fe thì thêm es vào
i. Cách nhớ : Ông Xã Sửa Zùm Chiếc Sh Yếu F(ép) Fê
ii. 3 nguyên âm ko được phép đứng cạnh nhau.
iii. F và Fe đổi thành ves.

Giới từ thời gian: at , in , on
At : nói về giờ
i. Vd: At 4h
In: nói về buổi
i. Vd: in the morning
On: nói về ngày
i. Vd: on Sunday
Lưu ý:
i. Nếu > ngày thì dùng in (vd: in 2008,…)
ii. Nếu có nhiều mốc thời gian thì chỉ xét đơn vị nhỏ nhất( vd: on 24 Oct, at 5h tomorrow)
Cách nhớ: xếp theo abc thì "at nhỏ hơn in nhỏ hơn on ( xét chữ cái đầu a nhỏ hơn i nhỏ hơn o) tương đương giờ nhỏ hơn buổi nhỏ hơn ngày"
Ngoại lệ: at night, in the night, at X-mas , on X-mas day.

Tuesday, September 30, 2008

The Trouble Tree

The Trouble Tree

Submitted By Kim Holtzenberg
Source : http://think.fountaingateway.com/thinknponder2.htm

The carpenter I hired to help me restore an old farmhouse had just finished a rough first day on the job. A flat tire made him lose an hour of work, his electric saw quit, and now his ancient pickup truck refused to start.
While I drove him home, he sat in stony silence. On arriving, he invited me in to meet his family. As we walked toward the front door, he paused briefly at a small tree, touching tips of the branches with both hands. When opening the door, he underwent an amazing transformation. His tanned face was wreathed in smiles and he hugged his two small children and gave his wife a kiss.
Afterward he walked me to the car. We passed the tree and my curiosity got the better of me. I asked him about what I had seen him do earlier. “Oh, that's my trouble tree," he replied. "I know I can't help having troubles on the job, but one thing's for sure, troubles don't belong in the house with my wife and the children. So I just hang them up on the tree every night when I come home. Then in the morning I pick them up again."
"Funny thing is," he smiled, "when I come out in the morning to pick'em up, there ain't nearly as many as I remember hanging up the night before."


Cây rắc rối

Translated by dunglh, Hanoi , 30 Sep 2008

Ông thợ mộc tôi thuê để giúp tôi sửa lại căn nhà nông trại cũ vừa mới hoàn tất xong ngày đầu nhọc nhằn với công việc này. Một bánh xe xẹp làm ông mất một giờ công ( để sửa xe), cưa điện của ông bị tuột ra, và giờ xe chở hàng cũ của ông không chịu khởi động.

Trong lúc tôi chở ông về nhà, ông ngồi lặng thinh như như hòn đó. Lúc đến nhà, ông mời tôi vào gặp gia đình ông. Khi ông đi bộ tới cửa trước, ông dừng lại giây lát ở một cây nhỏ, chạm hai tay vào ngọn của các nhánh cây. Khi mở cửa, ông trãi qua một sự thay đổi kinh ngạc. Gương mặt rám nắng của ông cười tươi và ông ôm ghì hai con nhỏ và trao vợ ông một nụ hôn.

Sau đó ông cùng tôi đi đến ô tô. Chúng tôi đi qua cái cây này và tôi không kiềm nỗi sự tò mò. Tôi hỏi ông về những gì tôi thấy ông làm trước đây. “Ồ, đó là cây rắc rối của tôi,” ông đáp. “Tôi không thể ngăn được có những rắc rối ở công việc này, nhưng chắc chắn một điều là, những rắc rối không thuộc trong căn nhà này với vợ và con tôi. Vì thế tôi treo chúng lên cây mỗi đêm khi tôi về đến nhà. Sau đó tôi nhặt chúng lại vào buổi sáng.”


“Điều vui là,” ông mỉm cười, “khi tôi ra ngoài vào buổi sáng để nhặt chúng lên, tôi nhớ gần như nó không nhiều bằng cái tôi đã treo lên vào đêm hôm trước.”


CÂY PHIỀN MUỘN

Thầy Trần Duy Nhiên dịch
http://www.hungvuongdalat.info/forum/baiviet.asp?TID=2293&PID=12291


Tôi thuê một người thợ người thợ mộc đến giúp tôi sửa sang một nông trại cũ. Khi anh vừa xong ngày làm việc cực nhọc đầu tiên, thì vỏ xe anh bị xì khiến anh phải mất một giờ, đến lượt chiếc cưa điện anh hỏng, rồi cái xe một tấn cũ kỹ của anh lại không chịu khởi động. Suốt thời gian tôi lái xe đưa anh về nhà, anh ngồi trầm ngâm im lặng như một pho tượng.

Đến nơi, anh mời tôi ghé vào thăm gia đình anh. Trên đường bước đến cửa ra vào, anh dừng lại một thoáng trước một cây nhỏ, đưa hai tay lên chạm vào đầu cành. Khi anh mở cửa thì con người anh đã thay đổi một cách lạ lùng. Gương mặt sạm nắng sáng lên trong nụ cười; anh ôm hai đứa con nhỏ vào lòng và hôn vợ mình.

Sau đó anh tiễn tôi ra xe. Chúng tôi đi ngang qua cái cây nhỏ và lòng hiếu kỳ đã vượt thắng tôi. Tôi hỏi anh về điều tôi thấy anh làm nơi cái cây ấy.

Anh trả lời: "À, đấy là cái cây phiền muộn của tôi. Tôi biết rằng mình không thể nào tránh khỏi những phiền toái bực dọc trong công việc, nhưng có điều chắc chắn, ấy là những bực bội đó không đính dấp gì đến căn nhà này, đến vợ con tôi. Vì thế tôi treo chúng lên cây này mỗi tối khi đi làm việc về. Rồi sáng hôm sau tôi lại lấy xuống mà đem đi."

Anh ta mỉm cười nói tiếp: "Điều ngộ nghĩnh là sáng hôm sau khi tôi lấy xuống thì dường như các phiền toái không còn nhiều bằng lúc tôi treo chúng lên cành cây đêm hôm trước nữa!"

Friday, September 26, 2008

Big Feet - Bigger Heart

Big Feet - Bigger Heart
Collected by DungLH , from Sunflower No.101 – Feb 2002

When deeds speak, words are nothing. (African Proverb)

It was an unseasonably hot day. Everybody it seemed was looking for some kind of relief,so an ice cream store was a natural place to stop.
A little girl, clutching her money tightly entered the store.Before she could say a word, the store clerk sharply told her to get outside and read the sign on the door, and stay out until she put on some shoes.
She left slowly, and a big man followed her out of the store. He watched as she stood in front of the store and reads the sign: No bare Feet. Tears started rolling down her cheeks as she turned and walked away. Just then the big man called to her.Sitting down on the curb, he took off his size-12 shoes,and set them in front of girl saying, "Here, you won't be able to walk in these, but if you sort of slide along, you can get your ice cream cone."
Then he lifted the little girl up and set her feet into the shoes."Take your time," he said, "I get tired of moving them around, and it'll feel good to just sit here and eat my ice cream."
The shining eyes of the little girl could not be missed asshe shuffled up to the counter and ordered her ice cream cone.
He was a big man, all right. Big belly, big shoes, but most of all,he had a big heart.

Đôi bàn chân lớn – Tấm lòng còn lớn hơn
Translated by dunglh, Hanoi, Mùa thu – 26 Sep 2008

Khi hành động lên tiếng, những lời nói không còn ý nghĩa nữa ( tục ngữ Châu phi )

Hôm đó là ngày nóng trái mùa. Mọi người dường như đang tìm gì đó để khây khỏa, vì thế một cửa hàng bán kem là nơi tự nhiên để đến.

Cô gái bé nhỏ, nắm chặt tiền đi vào cửa hàng. Trước khi nó mở miệng nói một lời, người bán hàng gay gắt giọng bảo nó đi ra và đọc bảng hiệu ở ngoài cửa, và ở đó đến khi nào mang dép mới được vào.

Cô bé chầm chậm rời đi, và một người đàn ông cao to theo sau nó ra khỏi cửa hiệu. Ông quan sát khi cô bé đứng trước cửa hiệu và đọc bảng hiệu: Không được mang chân trần. Những giọt nước mắt bắt đầu lăn xuống đôi má cô bé khi nó quay người lại và bỏ đi. Ngay lúc đó người đàn ông gọi nó. Ngồi xuống lề đường, ông cởi đôi dài size 12 của ông ra, đặt nó ngay trước cô bé và nói, “Đây, cháu sẽ không thể bước đi bằng những thứ này, nhưng nếu cháu cứ kéo lê dép về phía trước, cháu có thể nhận bánh kem”

Rồi ông nhấc nó lên và đặt đôi chân nó vào đôi giày này, “Cháu cứ thong thả mà đi,” ông nói, “chú mệt khi mang chúng quanh đây, và chú cảm thấy khỏe khi ngồi đây và ăn bánh kem của chú.”

Cặp mắt sáng của cô bé không thể lẫn vào đâu khi nó lê bước tới quầy hàng và đặt mua bánh kem của nó.

Ông là người đàn ông to, điều đó hoàn toàn đúng. Bụng to, đôi giày lớn, nhưng trên hết ông có một tấm lòng lớn.

* Tôi thích đọc những chuyện thế này. Đọc đi dọc lại nhiều lần, tôi đã rơm rớm nước mắt đi đọc đến “Tears started rolling down her cheeks as she turned and walked away”.
* Hình ảnh cô bé nắm chật tiền.. làm tôi nhớ đến thằng em, khi nó còn nhỏ, nó dành dụm tiền lên ngã tư lộ đỏ mua chiếc xe đồ chơi, vì sợ bọn xấu giật nó phải bỏ chiếc xe vào trong áo ôm bụng chạy một mạch về nhà. Mong rằng tôi luôn giữ được hình ảnh này…

Tuesday, September 9, 2008

In another country

In another country
By Ernest Hemingway

In the fall the war was always there, but we did not go to it any more. It was cold in the fall in Milan and the dark came very early. Then the electric lights came on, and it was pleasant along the streets looking in the windows. There was much game hanging outside the shops, and the snow powdered in the fur of the foxes and the wind blew their tails. The deer hung stiff and heavy and empty, and small birds blew in the wind and the wind turned their feathers. It was a cold fall and the wind came down from the mountains.
We were all at the hospital every afternoon, and there were different ways of walking across the town through the dusk to the hospital. Two of the ways were alongside canals, but they were long. Always, though, you crossed a bridge across a canal to enter the hospital. There was a choice of three bridges. On one of them a woman sold roasted chestnuts. It was warm, standing in front of her charcoal fire, and the chestnuts were warm afterward in your pocket. The hospital was very old and very beautiful, and you entered a gate and walked across a courtyard and out a gate on the other side. There were usually funerals starting from the courtyard. Beyond the old hospital were the new brick pavilions, and there we met every afternoon and were all very polite and interested in what was the matter, and sat in the machines that were to make so much difference.
The doctor came up to the machine where I was sitting and said: "What did you like best to do before the war? Did you practice a sport?"
I said: "Yes, football."
"Good," he said. "You will be able to play football again better than ever."
My knee did not bend and the leg dropped straight from the knee to the ankle without a calf, and the machine was to bend the knee and make it move as riding a tricycle. But it did not bend yet, and instead the machine lurched when it came to the bending part. The doctor said:" That will all pass. You are a fortunate young man. You will play football again like a champion."
In the next machine was a major who had a little hand like a baby's. He winked at me when the doctor examined his hand, which was between two leather straps that bounced up and down and flapped the stiff fingers, and said: "And will I too play football, captain-doctor?" He had been a very great fencer, and before the war the greatest fencer in Italy.
The doctor went to his office in a back room and brought a photograph which showed a hand that had been withered almost as small as the major's, before it had taken a machine course, and after was a little larger. The major held the photograph with his good hand and looked at it very carefully. "A wound?" he asked.
"An industrial accident," the doctor said.
"Very interesting, very interesting," the major said, and handed it back to the doctor.
"You have confidence?"
"No," said the major.
There were three boys who came each day who were about the same age I was. They were all three from Milan, and one of them was to be a lawyer, and one was to be a painter, and one had intended to be a soldier, and after we were finished with the machines, sometimes we walked back together to the Café Cova, which was next door to the Scala. We walked the short way through the communist quarter because we were four together. The people hated us because we were officers, and from a wine-shop someone called out, "A basso gli ufficiali!"(Low officers) as we passed. Another boy who walked with us sometimes and made us five wore a black silk handkerchief across his face because he had no nose then and his face was to be rebuilt. He had gone out to the front from the military academy and been wounded within an hour after he had gone into the front line for the first time. They rebuilt his face, but he came from a very old family and they could never get the nose exactly right. He went to South America and worked in a bank. But this was a long time ago, and then we did not any of us know how it was going to be afterward. We only knew then that there was always the war, but that we were not going to it any more.
We all had the same medals, except the boy with the black silk bandage across his face, and he had not been at the front long enough to get any medals. The tall boy with a very pale face who was to be a lawyer had been lieutenant of Arditi and had three medals of the sort we each had only one of. He had lived a very long time with death and was a little detached. We were all a little detached, and there was nothing that held us together except that we met every afternoon at the hospital. Although, as we walked to the Cova through the tough part of town, walking in the dark, with light and singing coming out of the wine-shops, and sometimes having to walk into the street when the men and women would crowd together on the sidewalk so that we would have had to jostle them to get by, we felt held together by there being something that had happened that they, the people who disliked us, did not understand.
We ourselves all understood the Cova, where it was rich and warm and not too brightly lighted, and noisy and smoky at certain hours, and there were always girls at the tables and the illustrated papers on a rack on the wall. The girls at the Cova were very patriotic, and I found that the most patriotic people in Italy were the café girls - and I believe they are still patriotic.
The boys at first were very polite about my medals and asked me what I had done to get them. I showed them the papers, which were written in very beautiful language and full of fratellanza and abnegazione(brotherhood and selflessness), but which really said, with the adjectives removed, that I had been given the medals because I was an American. After that their manner changed a little toward me, although I was their friend against outsiders. I was a friend, but I was never really one of them after they had read the citations, because it had been different with them and they had done very different things to get their medals. I had been wounded, it was true; but we all knew that being wounded, after all, was really an accident. I was never ashamed of the ribbons, though, and sometimes, after the cocktail hour, I would imagine myself having done all the things they had done to get their medals; but walking home at night through the empty streets with the cold wind and all the shops closed, trying to keep near the street lights, I knew that Ì would never have done such things, and I was very much afraid to die, and often lay in bed at night by myself, afraid to die and wondering how I would be when back to the front again.
The three with the medals were like hunting-hawks; and I was not a hawk, although I might seem a hawk to those who had never hunted; they, the three, knew better and so we drifted apart. But I stayed good friends with the boy who had been wounded his first day at the front, because he would never know now how he would have turned out; so he could never be accepted either, and I liked him because I thought perhaps he would not have turned out to be a hawk either.
The major, who had been a great fencer, did not believe in bravery, and spent much time while we sat in the machines correcting my grammar. He had complimented me on how I spoke Italian, and we talked together very easily. One day I had said that Italian seemed such an easy language to me that I could not take a great interest in it; everything was so easy to say. "Ah, yes," the major said. "Why, then, do you not take up the use of grammar?" So we took up the use of grammar, and soon Italian was such a difficult language that I was afraid to talk to him until I had the grammar straight in my mind.
The major came very regularly to the hospital. I do not think he ever missed a day, although I am sure he did not believe in the machines. There was a time when none of us believed in the machines, and one day the major said it was all nonsense. The machines were new then and it was we who were to prove them. It was an idiotic idea, he said, "a theory like another". I had not learned my grammar, and he said I was a stupid impossible disgrace, and he was a fool to have bothered with me. He was a small man and he sat straight up in his chair with his right hand thrust into the machine and looked straight ahead at the wall while the straps thumbed up and down with his fingers in them.
"What will you do when the war is over if it is over?" he asked me. "Speak grammatically!"
"I will go to the States."
"Are you married?"
"No, but I hope to be."
"The more a fool you are," he said. He seemed very angry. "A man must not marry."
"Why, Signor Maggiore(Mr Major)?"
"Don't call me Signor Maggiore(Mr Major)."
"Why must not a man marry?"
"He cannot marry. He cannot marry," he said angrily. "If he is to lose everything, he should not place himself in a position to lose that. He should not place himself in a position to lose. He should find things he cannot lose."
He spoke very angrily and bitterly, and looked straight ahead while he talked.
"But why should he necessarily lose it?"
"He'll lose it," the major said. He was looking at the wall. Then he looked down at the machine and jerked his little hand out from between the straps and slapped it hard against his thigh. "He'll lose it," he almost shouted. "Don't argue with me!" Then he called to the attendant who ran the machines. "Come and turn this damned thing off."
He went back into the other room for the light treatment and the massage. Then I heard him ask the doctor if he might use his telephone and he shut the door. When he came back into the room, I was sitting in another machine. He was wearing his cape and had his cap on, and he came directly toward my machine and put his arm on my shoulder.
"I am sorry," he said, and patted me on the shoulder with his good hand. "I would not be rude. My wife has just died. You must forgive me."
"Oh-" I said, feeling sick for him. "I am so sorry."
He stood there biting his lower lip. "It is very difficult," he said. "I cannot resign myself."
He looked straight past me and out through the window. Then he began to cry. "I am utterly unable to resign myself," he said and choked. And then crying, his head up looking at nothing, carrying himself straight and soldierly, with tears on both cheeks and biting his lips, he walked past the machines and out the door.
The doctor told me that the major's wife, who was very young and whom he had not married until he was definitely invalided out of the war, had died of pneumonia. She had been sick only a few days. No one expected her to die. The major did not come to the hospital for three days. Then he came at the usual hour, wearing a black band on the sleeve of his uniform. When he came back, there were large framed photographs around the wall, of all sorts of wounds before and after they had been cured by the machines. In front of the machine the major used were three photographs of hands like his that were completely restored. I do not know where the doctor got them. I always understood we were the first to use the machines. The photographs did not make much difference to the major because he only looked out of the window.


Ở một nước khác
Translated by DungLH , HCM , 07 – Sep – 2008 , my birthday

Vào mùa thu chiến tranh luôn ở đó, nhưng chúng tôi không đến đó nữa. Trời lạnh vào mùa thu ở Milan và tối đến rất sớm. Lúc đó đèn điện bật lên, và thật thú vị đi dọc theo những con đường nhìn vào các quầy hàng. Có nhiều con thú treo ngoài các quầy, và bột tuyến rơi trên lông những con cáo và gió thổi vào đuôi của chúng. Con nai treo cứng đơ nặng nè và trống rỗng, và những con chim nhỏ bị thổi tung trong gió và gió thổi vào lông của chúng. Đó là một mùa thu lạnh và gió thổi từ trên núi xuống.
Tất cả chúng tôi ở bệnh viện mỗi buổi chiều, và có nhiều cách đi bộ khác nhau ngang qua thị trấn xuyên qua vùng đất mờ tối để tới bệnh viện. Hai trong số những cách là dọc theo những con kênh, nhưng chúng thì dài. Mặc dù vậy, bạn luôn luôn phải đi qua một cái cầu bắc qua con kênh để vào bệnh viện. Có một lựa chọn trong số ba cây cầu. Trên một trong số chúng, có một người phụ nữ bán những hạt dẽ rang. Thật ấm áp khi đứng trước bếp than của chị, và những hạt dẽ ấm sau đó cũng vào túi bạn. Bệnh viện rất xưa và đẹp, và bạn vào một cổng, đi qua cái sân và đi ra cổng ở phía bên kia. Thường có những đám tang bắt đầu từ cái sân này. Xa xa bệnh viện cũ này là các dãy nhà gạch mới, và ở đó chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều và tất cả chúng tôi rất lịch sự và quan tâm đến bất cứ vấn đề gì, và ngồi trên những máy được tạo rất khác biệt nhau.
Bác sĩ đến tận máy nơi tôi đang ngồi và nói: “Anh thích làm gì nhất trước chiến tranh? Có tập môn thể thao nào không?”
Tôi nói: “vâng bóng đá.”
“Tốt, anh sẽ có thể chơi bóng tốt lại hơn bao giờ hết.” bác sĩ nói.
Đầu gối tôi không gập và chân tôi duỗi thẳng từ đầu gối đến mắt cá mà không có bắp chân, và máy này sẽ gập đầu gối và làm nó cử động như khi cưỡi xe đạp. Nhưng nó vẫn không gập, và thay vào đó máy cứ lắc lư khi đến bộ phận gập. Bác sĩ nói: “Mọi chuyện sẽ qua. Anh là người may mắn. Anh sẽ chơi bóng lại như nhà vô địch.”
Ở máy bên cạnh là ông thiếu tá người có bàn tay nhỏ như tay em bé. Ông nháy mắt tôi khi bác sĩ khám tay ông, nó nằm giữa hai dây đai da đập lên đập xuống và đập vào những ngón tay đứng đơ, và nói: “và tôi cũng sẽ chơi bóng nữa đúng không bác sĩ đại úy?” Ông từng là tay kiếm rất giỏi, và là tay kiếm vĩ đại nhất nước ý trước chiến tranh.
Bác sĩ này đi trở về phòng ông ở phía sau lưng và mang một tấm ảnh hình một bàn tay bị teo hầu như bằng tay ông thiếu tá, trước khi nó tập máy này, và sau đó lớn hơn một chút. Thiếu tá cần tấm ảnh với tay lành lặn và chăm chú nhìn nó. “Bị thương àh?” thiếu tá hỏi.
“Một tai nạn công nghiệp,” bác sĩ nói.
“Rất hấp dẫn, rất hấp dẫn,” thiếu tá nói và trao ảnh lại cho bác sĩ.
“Anh có tin không?”
“Không,” thiếu tá nói.
Có ba thằng bé đến đây mỗi ngày, chúng trạc tuổi tôi. Cả ba đều từ Milan đến, và một trong số họ định làm luật sư, một định làm họa sĩ, và một định làm quân nhân, và sau khi chúng tôi tập xong các máy này, thỉnh thoảng chúng tôi cùng đi về quán café Cova bên cạnh nhà hát kịch Scala. Chúng tôi bước gần bên nhau qua khu phố cộng sản vì chúng tôi là bốn người bên nhau. Người dân ở đây ghét chúng tôi vì chúng tôi là những sĩ quan, và từ một quán rượu ai đó gọi lên “sĩ quan quèn” khi chúng tôi đi ngang. Một thằng bé nữa thỉnh thoảng đi dạo với chúng tôi và làm chúng tôi trở thành nhóm năm người, mang một khăn tay lụa đen căng ngang qua mặt vì nó không có mũi lúc đó và khuôn mặt nó sẽ được tái dựng lại. Nó ra chiến trường từ học viện quân sự và bị thương trong vòng một giờ sau khi ra tiền tuyến lần đầu tiên. Họ đã dựng lại khuôn mặt nó, nhưng gốc gác nó rất xa và họ không bao giờ nhận diện chính xác mũi nó. Nó đi đến Nam Mỹ và làm cho một ngân hàng. Nhưng việc đó thì cách đây lâu rồi, và sau đó không ai trong chúng tôi biết chuyện gì xảy ra nữa. Chúng tôi chỉ biết rằng luôn luôn có chiến tranh, nhưng chúng tôi không đi đến đó nữa.
Tất cả chúng tôi có cùng các huy chương, ngoại trừ thằng bé có khăn lụa đen che ngang mặt, nó không ở tiền tuyến đủ lâu để nhận bất cứ huy chương nào. Thằng bé cao với gương mặt tái xanh người dự định trở thành luật sư là trung úy hải quân ý (Arditi) và có ba huy chương trong số các loại này còn mỗi chúng tôi chỉ có một trong số đó. Nó sống một thời gian rất dài với cái chết và có chút lạnh nhạt. Tất cả chúng tôi đều hơi lạnh nhạt, và không có gì giữ chúng tôi bên nhau ngoại trừ việc chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều ở bệnh viện. Mặc dù vậy, khi chúng tôi đi bộ đến quán café Cova qua khu vực hung bạo của thành phố, đi dạo trong đêm tối, với ánh đèn và tiếng hát vọng ra từ các quán nhậu, và đôi khi phải đi vào con đường có đám đông nam nữ tụ tập với nhau trên lề đường khiến chúng tôi phải chen lấn họ để đi qua, chúng tôi cảm thấy bên nhau bởi có gì đó xảy đến rằng họ, những người không thích chúng tôi đã không hiểu.
Tất cả chúng tôi hiểu quán Cova này, nơi giàu có, ấm áp và không quá sáng, không ồn ào và không có khói thuốc ở những giờ nhất định, và luôn luôn có những cô gái ở bên các bàn và những bài báo minh họa để trên giá tường. Các cô gái ở quán Cova rất yêu nước, và tôi thấy những người yêu nước nhất ở ý là những cô gái ở quán café này – và tôi tin họ vẫn yêu nước.
Những cậu bé này lúc đầu rất lịch sự về những huy chương của tôi và hỏi tôi làm những gì để có được nó. Tôi cho họ xem những bài báo được viết bằng ngôn ngữ rất đẹp và đầy tình huynh đệ và đức hy sinh luôn nghĩ đến người khác, nhưng thật sự nói rằng với những tính từ bị lược bỏ, tôi nhận được những huy chương này là bởi vì tôi là người Mỹ. Sau đó thái độ họ có thay đổi chút ít đối với tôi, mặc dù tôi là bạn họ chống lại những người phía bên kia. Tôi là một người bạn, nhưng tôi thật sự không bao giờ là một trong số họ sau khi họ đọc những lời tuyên dương, vì nó rất khác với họ và họ làm những việc rất khác để nhận những huy chương đó. Tôi đã bị thương, điều đó đúng, nhưng tất cả chúng tôi biết rằng bị thương, sau hết thật sự chỉ là một tai nạn. Tôi chưa bao giờ xấu hổ về những dây huy chương này, dù vậy, đôi khi sau những giờ uống nước, tôi tự tưởng tượng làm tất cả mọi thứ để nhận những huy chương của họ; nhưng đi bộ về nhà lúc đêm qua những con đường vắng trong gió lạnh và tất cả của hàng đã đóng cửa, cố giữ gần ánh đèn đường, tôi biết rằng tôi sẽ không bao giờ làm những việc như thế, và rất sợ chết, và thường nằm ngủ một mình lúc đêm, sợ chết và tự hỏi sẽ như thế nào nếu tôi quay lại chiến trường.
Ba người với những huy chương này thì giống như những con quạ săn mồi; và tôi không là con quạ, mặc dù tôi có vẻ như là con quạ với những người chưa bao giờ đi săn; ba người họ biết rõ hơn ai hết và vì thế chúng tôi dần xa cách. Nhưng tôi vẫn là bạn tốt với thằng bị thương ngày đầu ra quân ở chiến trường, vì nó sẽ không bao giờ biết nó sẽ trở thành như thế nào; vì thế nó cũng không bao giờ chấp nhận nữa; và tôi thích nó bởi vì tôi nghĩ có lẽ nó sẽ không trở thành một con diều hâu nữa.
Ông thiếu tá, người từng là tay kiếm vĩ đại, không tin vào sự can đảm, và dành nhiều thời gian trong khi tôi ngồi ở máy tập để sửa lỗi văn phạm của tôi. Ông ta khen tôi ở cách tôi nói tiếng ý, và tôi đã nói với nhau một cách rất dễ. Một hôm tôi nói rằng tiếng ý có vẻ như là ngôn ngữ dễ với tôi và tôi không thể quan tâm nhiều về nó; mọi việc thì quá dễ để nói. “À thế àh,” thiếu tá nói. “Thế sao anh không áp dụng văn phạm đi?” Vì thế chúng tôi áp dụng văn phạm, ngay tức khắc tiếng ý là ngôn ngữ khó và tôi sợ nói với ông đến khi nào tôi có sẵn văn phạm trong đầu.
Ông thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn, tôi không nghĩ ông ta vắng một ngày, dù vậy tôi chắc ông ta không tin vào các máy này. Có một lần khi không ai trong số chúng tôi tin các máy này, và một hôm ông thiếu tá nói các thứ đó là vớ vẩn. Các máy này là mới lúc đó và chúng tôi là những người chúng minh chúng. Đó là một ý tưởng ngu ngốc, ông nói, “một lý thuyết giống như những lý thuyết khác”. Tôi đã không học văn phạm, và ông ấy nói tôi là một thằng ngu bị ghét bỏ không thể ngờ được, và ông ta là thằng ngu nếu bận tâm đến tôi. Ông ta nhỏ người và ngồi thẳng người trên ghế, bàn tay phải thọt vào máy và nhìn thẳng đầu vào bức tường trong khi các dây đai đập lên xuống vào các ngón tay ông.
“Giả sử chiến tranh đi qua thì anh làm gì lúc đó?” ông ta hỏi tôi. “Nói một cách có văn phạm đấy nhé!”
“Tôi sẽ đi Mỹ.”
“Anh có gia đình chưa?”
“Chưa, nhưng tôi hy vọng sẽ có.”
“Anh càng khùng hết biết,” ông nói. Ông ta có vẻ rất giận. “Đàn ông không được lập gia đình.”
“Vì sao, thưa ngài thiếu tá?”
“Đừng gọi tôi là ngài thiếu tá.”
“Thế tại sao đàn ông không được lập gia đình?”
“Nó không thể cưới vợ. Nó không thể cưới vợ,” ông nói một cách giận dữ. “Nếu nó sẽ mất mọi thứ, nó không nên đặt chính nó vào vị trí để mất đó. Nó không nên đặt chính nó vào vị trí để mất. Nó nên tìm những thứ nó không thể mất.”
Ông ta nói một cách rất giận dữ và cay đắng, nhìn thẳng đầu xa xa trong khi ông nói.
“Nhưng sao anh ấy cần thiết mất nó?”
“Anh ấy sẽ mất nó,” thiếu tá nói. Ông đang nhìn vào bức tường. Sau đó ông nhìn xuống cái máy và giựt bàn tay bé ra khỏi các dây đai và đập mạnh nó vào đùi ông. “Anh ta sẽ mất nó,” ông ta hầu như thét lên. “Đừng có cãi tôi!” Sau đó ông gọi người trông coi máy. “Đến và tắt cái máy chết tiệt này đi.”
Ông ta đi trở vào phòng khác để điều trị nhẹ và mát-xa. Sau đó tôi nghe ông hỏi bác sĩ liệu ông có thể dùng điện thoại không và đóng cửa phòng lại. Khi ông quay trở lại phòng tập, tôi đang ngồi ở máy khác. Ông đang mặc áo khoác không tay và đội nón lưỡi trai, và ông đi thẳng hướng đến máy tôi và đặt cánh tay ông lên vai tôi.
“Tôi xin lỗi, ” ông nói, và vỗ nhẹ vào vai tôi bằng bàn tay lành lặn. “Tôi sẽ không thô lỗ nữa. Vợ tôi vừa mới mất. Anh phải tha thứ cho tôi.”
“Ô, tôi thật xin lỗi.” tôi nói và cảm thấy thương nhớ ông.
Ông đứng bậm môi dưới lại. “Nó rất khó,” ông nói. “Tôi không thể chấp nhận chính tôi.”
Ông nhìn thẳng qua tôi và nhìn ra ngoài qua cửa sổ. Rồi ông bắt đầu khóc. “Tôi hoàn toàn không thể chấp nhận chính tôi,” ông nghẹn ngào nói. Và sau đó bật khóc, đầu ông ngữa thẳng lên nhìn không đâu, đứng thẳng như người lính, những giọt nước mắt rơi trên đôi má và bậm đôi môi lại, ông đi qua những máy này và ra ngoài cửa.
Bác sĩ bảo tôi rằng vợ thiếu tá, người rất trẻ và ông ấy không cưới đến khi ông bị thương tật hoàn toàn ngoài chiến trường, đã mất vì lao phổi. Cô ấy bệnh chỉ vài ngày. Không ai nghĩ cô ấy mất. Thiếu tá không đến bệnh viện suốt ba ngày. Sau đó ông đến vào những giờ như thường lệ, đeo khăn đen trên cánh tay áo đồng phục. Khi ông trở lại, có những bức ảnh lồng khung lớn quanh tường, về mọi lại chấn thương trước và sau khi chúng được điều trị bằng các máy này. Trước máy ông thiếu tá từng dùng là ba tấm ảnh về những bàn tay giống tay ông và chúng hoàn toàn được phục hồi. Tôi không biết bác sĩ lấy chúng ở đâu. Tôi luôn luôn hiểu chúng tôi là những người đầu tiên dùng các máy này. Các bước ảnh không tạo khác biệt nhiều đối với thiếu tá vì ông chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ.